Mẹ về giữa tiết Thanh minh
Tiết Thanh minh, sau một đêm, trời bỗng bàng bạc mây và chuyển sang mưa bụi êm êm giăng lất phất trên khắp đường làng ngõ xóm. Đất trời như được gột rửa, trong trẻo đến lạ kỳ. Không gian như lắng đọng lại, lòng người cũng tạm quên đi những bận rộn xô bồ để trở về với trạng thái yên bình, thành kính trước tập tục thiêng liêng.
Dưới những vạt nắng tháng Ba, mộ phần bố tôi bao năm qua vẫn ở đó, lặng lẽ giữa màu xanh của cỏ cây. Nay mẹ cũng vừa ra đi được 33 ngày, mộ mẹ đặt nằm ngay ngắn cạnh bố. Đứng trước ngôi mộ mẹ - nơi lưu giữ nụ cười trong tấm ảnh chân dung được khắc trên bia đá, tôi thấy lòng mình thắt lại. Nụ cười hiền hậu ấy giờ chỉ còn trong ký ức, là nỗi lòng nuối tiếc khôn cùng của đứa con út đã lỡ mất lời tiễn biệt cuối cùng.
Những nén hương thắp lên không chỉ cháy bằng lửa, mà bằng nỗi nhớ, bằng tình thương sâu nặng. Tôi thèm được nép mình vào lòng mẹ, thu mình bé nhỏ mà cuộn tròn trong những ký ức xưa êm đềm. Tôi ôm lấy tấm bia mộ, cảm nhận chút hơi ấm như một vòng tay mẹ dành cho tôi như bao ngày trước, khẽ thì thầm: “Đã 33 ngày rồi mẹ nhỉ. Buổi trưa hôm ấy là buổi cuối cùng con được trò chuyện cùng mẹ. Con đưa mẹ đi gội đầu, mời mẹ ly cà phê mẹ ưa thích... Hai mẹ con mình vui lắm, đâu ngờ đó cũng là lần cuối con được ôm đôi vai gầy thân thương...”
Trước đây, khi nhận ra mẹ ngày một già đi, bước chân chậm lại phải chống gậy, giọng nói yếu dần và mái tóc thêm nhiều sợi bạc, trong tôi đã xuất hiện một nỗi sợ hãi mơ hồ. Chỉ nghĩ đến việc mẹ không còn bên cạnh, lồng ngực tôi đã nghẹn lại. Đôi lúc về nhà, chỉ cần thấy mẹ đứng trước sân ngóng đợi, hay lúc tôi đi, mẹ lại chống gậy ra mở cổng, giơ tay chào tạm biệt và nhắc nhở "đi đường cẩn thận" – bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy lòng nhẹ bẫng và bình yên đến lạ.

Tôi đã tự nhắc mình phải trân trọng từng phút giây bên mẹ. Mỗi lần về, tôi lại được nghe mẹ hỏi những câu quen thuộc: “Hằng về đấy à con? Hôm nay không đi làm à? Các cháu có hay gọi điện về nhà không?”. Hay khi mẹ níu tay tôi kể chuyện các cháu: “À, Phúc Anh khoe mới lĩnh lương, bảo cuối tuần về biếu tiền mẹ đấy. Nam Hải thì gọi về khoe được nhà trường cấp tiền điện thoại nên mua biếu bà gói cà phê. Đứa nào cũng thương bà...”. Mẹ vừa nói vừa cười, đôi mắt ánh lên niềm vui của người già. Khi bọn trẻ về thăm, lúc đi bao giờ mẹ cũng tìm cách dúi chút tiền dành dụm vào tay cháu, dặn khẽ: “Đừng nói bố mẹ nhé, bà cho một ít đi đường uống nước, chịu khó học hành, đừng có hút thuốc bà thương...”
Mẹ tôi đi vào tháng Ba, khi mùa xuân đã trôi qua và tiết trời bắt đầu ấm dần. Tôi vẫn nghe các bà trong làng bảo, ai đi vào những ngày giao mùa thường để lại nỗi trống trải thật lâu cho người ở lại. Hôm ấy, mẹ kết thúc hành trình 87 mùa xuân. Trong giây phút chuẩn bị lìa xa cõi dương thế, đôi mắt mẹ vẫn nhìn anh em chúng tôi lặng lẽ và trìu mến. Vẫn biết sinh, lão, bệnh, tử là quy luật, nhưng khi mẹ ra đi đột ngột như một cái chớp mắt, tôi thấy mình như mất cả phần hồn, bất lực chứng kiến vòng tay che chở của đời mình vụt tan như làn khói.
Dù đã chuẩn bị tâm lý, nhưng tôi vẫn không tin được đó là sự thật, khi hằng ngày mẹ vẫn quan tâm hỏi han, vẫn đọc sách báo, nghe đài và quét dọn sân nhà... Cánh đồng chỗ mẹ nằm vẫn xanh rì bát ngát, làng tôi hiện ra như một bức tranh đang thức tỉnh giữa mùi hương hoa cỏ dại vương vấn. Nơi đây, nhịp sống vẫn diễn ra chậm rãi, mang theo câu chuyện của những linh hồn đã rời đi nhưng không bao giờ thoát khỏi miền ký ức.
Mẹ tôi là cô giáo dạy Văn. Trong mênh mông hoài niệm, hình ảnh mẹ đọng lại nhiều nhất là dáng hình hiền từ, thích mặc áo trắng và quần lụa đen. Một đời mẹ tần tảo với chiếc xe đạp, buổi đến trường đứng trên bục giảng, buổi cùng bố quán xuyến việc gia đình. Thời bao cấp khốn khó, nhà đông con, mẹ làm thêm đủ nghề: nuôi lợn, nấu rượu, cặm cụi bóc lạc thuê.
Tôi nhớ như in hình ảnh mẹ buổi tối vừa chấm bài, vừa tranh thủ nấu rượu, khói trắng bốc lên khiến mẹ cay xè mắt. Bên bếp lửa cháy bập bùng, từng giọt rượu nhỏ ra chậm rãi và mỗi mẻ rượu cũng chỉ đổi lấy chút bã để chăn lợn. Mùi men rượu thoang thoảng lẫn mùi thơm của rổ lạc mới bóc cứ lẩn khuất đâu đây. Gian bếp ấy vừa là nơi bố mẹ lao động trang trải cuộc sống, vừa là nơi anh em tôi chạy xuống xem có giúp được gì không.
Trong những bữa ăn bữa đói bữa no, tôi nghẹn ngào nhớ lại lời kể của mẹ: hễ mở vung nồi là tôi lại đòi ăn cơm trắng chứ không ăn "cơm đen" – thứ cơm độn sắn gạc nai mà bố mẹ phải đạp xe lên xã Thọ Dân xếp hàng nhận về. Mắt tôi lại rơm rớm thương bố mẹ và các anh chị, vì ai cũng nhường nhịn cho đứa út là tôi được ăn no. Dù thiếu thốn, nhưng ngày khai trường hay dịp Tết, bố mẹ bao giờ cũng cố dành dụm tem phiếu lo cho mỗi đứa một cái áo, cái quần mới...
Vẫn còn đó biết bao ký ức vui buồn, tôi như người mắc nợ quá khứ bằng những thổn thức không nguôi. Mẹ đã về với mây trời, nhưng với tôi, mẹ luôn là người phụ nữ đức hạnh, nhân hậu. Hôm nay về đây, làn khói hương trầm trên mộ bố mẹ bay xa, thơm ngào ngạt như minh chứng cho điều tôi đang thầm sám hối:
“Công cha nghĩa mẹ thêm dày,
Con đong, đong mãi không đầy mẹ ơi!”