Miễn thuế thu nhập đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 3 năm để doanh nghiệp “từng bước lớn lên”
Ngày 28/9, tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ nhất, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, các đại biểu Quốc hội thảo luận về nhóm dự án thuộc lĩnh vực kinh tế, tài chính, gồm các dự án Luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập; Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Xem xét lại thời điểm bắt đầu miễn thuế
Đề cập đến Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại biểu Quốc hội Trần Văn Lâm (Đoàn TP. Bắc Ninh) cho rằng, giá trị của sửa Luật lần này không chỉ thể hiện ở khả năng giúp doanh nghiệp giảm chi phí, nâng cao năng lực từng bước lớn lên mà còn có ý nghĩa rộng lớn hơn.
Tuy nhiên theo ông Lâm, có hai nhóm vấn đề chưa thực sự sát. Đó là chính sách về thuế, kế toán tại điều 9; và chính sách về hỗ trợ tiếp cận mặt bằng thông qua các khu cụm công nghiệp ở điều 10.
Về chính sách thuế và kế toán, ông Lâm cho hay, tại khoản 2 điều 9 quy định việc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên cần xem xét lại thời điểm bắt đầu tính miễn thuế.
“Thực tế những năm đầu, doanh nghiệp đầu tư nhà xưởng, mua sắm thiết bị, tuyển dụng lao động, tìm kiếm khách hàng, xây dựng thị trường. Không ít doanh nghiệp chưa có lãi, lãi rất thấp, hoặc lỗ. Nếu thời gian miễn thuế tính từ ngày đăng ký trong khi doanh nghiệp chưa phát sinh thuế phải nộp, chưa có lãi đã hết thời hạn được miễn giảm thuế. Do đó, chính sách ưu đãi này không đi vào thực tế đối với rất nhiều doanh nghiệp. Như vậy, những năm sau thời gian thực sự được miễn thuế còn rất ngắn”, ông Lâm nói và đề nghị thời gian miễn thuế nên từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế chứ không phải năm đầu tiên đăng ký. Thời gian áp dụng kéo dài 3 năm.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Huy (Đoàn Hưng Yên) cũng cho rằng, dự thảo Luật đã có nhiều đổi mới, chuyển từ tư duy chủ yếu là hỗ trợ sang tư duy phát triển doanh nghiệp và chú trọng hơn đến đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tham gia vào chuỗi giá trị và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước.
Về chính sách thuế, ông Huy đề nghị cân nhắc kỹ quy định miễn thuế 3 năm đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bởi nếu áp dụng đối tượng rộng đối với toàn bộ doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập, chính sách có thể tạo ra chi phí ngân sách lớn nhưng chưa chắc đã tương xứng với mức độ cần thiết của từng nhóm doanh nghiệp.
Ông Huy đưa ra phân tích: Trong thực tế nhu cầu hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp sản xuất tham gia chuỗi cung ứng, doanh nghiệp công nghệ cao khác với doanh nghiệp hoạt động trong ngành kinh tế ngành nghề kinh doanh thông thường. Do đó cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu theo hướng phân tầng chính sách thuế. Trong đó, ưu đãi cao hơn, dài hơn, hoặc có điều kiện với những doanh nghiệp thuộc ngành lĩnh vực ưu tiên, có hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sản xuất xanh, tham gia chuỗi giá trị, tạo nhiều việc làm hoặc có khả năng đóng góp lớn cho nền kinh tế.
“Đồng thời cần quy định rõ nguyên tắc không để doanh nghiệp lợi dụng chính sách bằng cách chia tách thành lập doanh nghiệp mới, hoặc chuyển hoạt động sang pháp nhân mới nhằm tiếp tục hưởng ưu đãi”, ông Huy nói.
Giải trình trước các ý kiến đại biểu đặt ra về đề nghị tính thời gian miễn thuế 3 năm kể từ khi doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dựa theo kinh nghiệm quốc tế, cách thiết kế chính sách hiện nay xuất phát từ thực tế 3 năm đầu khởi nghiệp là giai đoạn doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, phải bỏ vốn đầu tư, mua sắm thiết bị, tổ chức sản xuất, kinh doanh và tiếp cận thị trường.
Theo ông Tuấn, với quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay, mỗi năm ngân sách đã dành khoảng 10.000 tỷ đồng cho ưu đãi giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm. Cùng với đó, về giảm chi phí tuân thủ, dự thảo đã nâng ngưỡng áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản cho cả thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, theo cách lấy doanh thu nhân với thuế suất. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính, phương pháp này nhằm giúp doanh nghiệp giảm thời gian, chi phí tuân thủ, dễ thực hiện và dễ tính toán hơn.
Tránh tình trạng nơi cần lại không đủ ngân sách
Bên cạnh đó, ông Trần Văn Lâm cũng cho rằng, cần ưu tiên rõ hơn cho phát triển các cụm công nghiệp để phục vụ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nếu quan tâm đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải quan tâm đến các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư cụm công nghiệp. Như vậy mới quan tâm thực chất để giải quyết những vấn đề khó khăn về mặt bằng cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần ngay các nhà xưởng thuê, nguồn nguyên liệu, lao động địa phương. Cụm công nghiệp đáp ứng rất tốt những điều này. Vì vậy hỗ trợ cụm công nghiệp là cách giải quyết đồng thời nhu cầu mặt bằng, môi trường, việc làm và chuyển đổi hộ kinh doanh.
Từ đó, ông Lâm đề nghị ưu tiên: hạ tầng dùng chung thiết yếu, những lô nhỏ và nhà xưởng cho thuê phù hợp với khả năng tài chính và hỗ trợ di dời, vận chuyển, lắp đặt lại thiết bị đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư vào cụm công nghiệp.
“Đối với những địa phương khó khăn cần có những cơ chế hỗ trợ nguồn lực từ trung ương để tránh tình trạng nơi cần nhất lại không đủ ngân sách thực hiện. Bởi những địa phương càng khó khăn, doanh nghiệp ở đấy càng cần hỗ trợ thì nguồn lực địa phương lại không có. Do đó, trung ương cần phải có sự quan tâm để giúp cho các địa phương và doanh nghiệp ở những địa phương còn nhiều khó khăn”, ông Lâm nói.
Về chính sách tiếp cận mặt bằng sản xuất tại điều 10, theo ông Nguyễn Văn Huy, đây là một trong những điểm mới rất có ý nghĩa thực tiễn. Theo đó, dự thảo cho phép căn cứ điều kiện thực tế tại địa phương thì UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định sử dụng ngân sách địa phương để đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa hỗ trợ chủ đầu tư hạ tầng. Đồng thời có cơ chế hỗ trợ tiền thuê lại đất và ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nhà đất là tài sản công chưa sử dụng, hoặc không sử dụng tại địa phương. Dự thảo cũng yêu cầu địa phương công khai quỹ đất diện tích mặt bằng còn trống và danh mục tài sản để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận.
Nhấn mạnh mặt bằng sản xuất, đất đai và chi phí thuê mặt bằng đang là một trong những rào cản lớn đối với quá trình mở rộng quy mô của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là doanh nghiệp sản xuất chế biến. Tuy nhiên để chính sách đi vào thực tế theo ông Huy, khi quy định địa phương sử dụng ngân sách để đầu tư hạ tầng và hỗ trợ tiền thuê lại đất cần phải xác định rõ đây là quyền chủ động của địa phương hay là trách nhiệm phải thực hiện khi có đủ điều kiện.
Đồng thời, phải có tiêu chí, điều kiện và nguyên tắc phân bổ nguồn lực để tránh tình trạng địa phương có nhu cầu rất lớn nhưng không có khả năng ngân sách. Trong khi địa phương có điều kiện ngân sách thì thực hiện chính sách thuận lợi hơn.