Một sắc đỏ cất giữ miền quê
Vườn nhà ngày ấy như một khu rừng nguyên sinh thu nhỏ với đủ loại cây mà dong riềng là một tâm điểm. Thỉnh thoại tút một cọng hoa, đưa lên miệng hút giọt mật ngọt, và cứ đọng mãi trong tôi qua năm tháng...

Những buổi trưa hè loang lổ nắng, nóng rát da thịt, vậy mà lũ trẻ chúng tôi vẫn mê mải các trò chơi... Bên bụi dong riềng um tùm, xanh tốt rộn rã tiếng cười, chúng tôi bịt mắt nhau, một đứa “trọng tài” hái một mảnh lá vò nhẹ rồi đưa lên mũi cho hai bạn đoán. Những loại lá có tinh dầu mạnh hay mùi đặc trưng như lá chành chành thơm mùi quế, lá chanh, lá bưởi thơm nồng, lá bái bái hăng hắc. Còn lá dong riềng thì mùi ngai ngái, thơm dịu, gần giống mùi lá dong gói bánh chưng.
Vui là chính, nhưng chơi đố lá thua mãi cũng lặng lẽ một chút buồn như thua đánh bi, đánh đáo. Muốn ít thua thì phải luyện cách “cả lỗ”, phải hàng trăm lần phóng bi sao cho ngón tay dẻo, ước lượng lực đẩy cho vừa để trúng bi đối thủ. Chơi đố lá cũng phải học cách quan sát tỉ mỉ, rèn luyện các giác quan và tích lũy tri thức dân gian về các loài cây quanh không gian sống của mình. Nhờ đó mà tôi phát hiện ra thế giới cỏ cây quanh mình có biết bao điều thú vị về mùi vị, sắc màu, nhất là với hoa dong riềng - loài hoa rực rỡ nhưng lặng lẽ, bình dị.
Bao chùm hoa đỏ thắm cứ vươn thẳng lên trời như những ngọn lửa bập bùng. Những cánh hoa mỏng manh, mềm mại ôm lấy nhụy vàng, tỏa ra mùi hương nhè nhẹ. Chính vẻ đẹp ấy mà dong riềng mang ý nghĩa của sự sung túc, đoàn kết và đùm bọc lẫn nhau. Người lớn còn bảo rằng, loài cây này mang lại sự may mắn, tài lộc và xua đi tà khí trong gia đình.
Trong văn hóa tâm linh và thờ cúng của người dân quê tôi, loại hoa nào rực rỡ đều có thể dâng lên bàn thờ và dong riềng cũng là một lựa chọn. Bụi dong riềng nơi góc vườn rực màu hoa đỏ, vào dịp lễ Tết mẹ tôi cắt cùng với vài loại hoa khác cắm vào cái bình, đặt lên bàn thờ như sưởi ấm cả không gian nhỏ hẹp.
***
Nhưng làm ấm lòng người thì chẳng ai quên củ dong riềng. Vui chơi, nhảy nhót mãi bụng cũng sôi èo èo. Tôi chạy về gian bếp quen thuộc để lục lọi. Gian bếp không có cửa, cứ trống hoác. Chiều ấy mẹ cha đi vỡ đất hoang để trồng sắn, tôi dớn dác kiếm tìm cái ăn. Trên chiếc chõng tre, mẹ úp một lồng bàn tự tay bố đan, nan to như nan quạt vào cái đĩa. Thì ra mẹ vẫn để dành phần cho các con. Mấy củ dong riềng luộc đã nguội nằm trong chiếc đĩa bị sứt góc, khiến tôi mừng như được một phong bánh khảo của người thân từ tỉnh mua về. Tôi nhón một củ ngồi giữa sân, vừa ăn vừa nhìn ánh nắng chiều hoang hoải đổ xuống, vừa lúc đó Chiến chạy vào, hỏi “cái gì đấy, tao ăn với”. Tôi chạy vào bếp, cầm cái đĩa còn hai củ, chia cho bạn một.
Củ dong riềng đỏ không chỉ cứu cơn đói cho chúng tôi mà cứu đói cho cả xóm nghèo. Củ thường được thu hoạch vào cuối năm, ngoài luộc riêng hoặc lẫn với khoai lang hay sắn để ăn sáng cũng cầm cự được tới bữa trưa. Củ dong riềng tía to và ít xơ hơn củ dong trắng (thường gọi là khoai dong), ăn lành bụng, không xót ruột. Nhiều người dân quê tôi còn sát dong riềng lấy bột, rồi lọc và phơi khô, đóng gói, bảo quản cẩn thận trong chum, vại để dùng dần. Từ bột dong có thể chế biến thành bánh, làm miến, nấu chè.
Ngày tôi lên Bình Liêu, Quảng Ninh, vào xưởng chế biến miến dong sạch đầu tiên ở miền Bắc, mới thấy chế biến củ dong thành miến qua rất nhiều công đoạn. Và sự thắc mắc thời thơ ấu, “sao nhà mình không làm miến dong” mà bố mẹ không trả lời, giờ thật rõ ràng, mạch lạc.
Chỉ cần chạm khẽ vào một miền nhớ ấy là cả một trời kỷ niệm đánh bi hạt dong lại ùa về. Khi cánh hoa dong riềng héo tàn, ngay chỗ chân hoa bắt đầu nhú ra một cái núm nhỏ. Cái núm ấy lớn dần lên thành từng quả xù xì, ôm lấy những hạt bi tròn bên trong. Ngày ấy, có những viên bi thủy tinh sắc mầu lấp lánh, nhưng phải mua ở bà hàng xén; vài xu thôi, nhưng với chúng tôi là “đắt”, vì trong túi lúc nào cũng rỗng tuếch. Nên chúng tôi tự tìm trò vui từ những gì sẵn có quanh mình. Mỗi mùa dong riềng tía chín, vỏ quả khô lại, xù xì rồi nứt ra, để lộ những hạt tròn, đen bóng cứng cáp. Đó là lúc “túi bi” xuất hiện. Cầm hạt bi dong riềng mát rượi trong lòng bàn tay, chúng tôi vạch một đường tròn trên nền đất khô, rồi bắt đầu những ván bi đầy căng thẳng. Những viên bi tự nhiên ấy tuy nhẹ và nhỏ hơn bi thật, nhưng dưới bàn tay của lũ trẻ nghèo, chúng vẫn bật nhảy, chạm vào nhau vang lên những tiếng “tách, tách” giòn tan. Mỗi lần bắn trúng một hạt bi đen nhẵn của bạn, lòng lại rộn ràng một niềm vui giản dị.
Nhắm mắt lại, tôi như vẫn còn thấy cái cảm giác ngón tay cái búng nhẹ, hạt bi tròn đen lăn trên nền đất bụi, và tiếng cười vang rộn rã cả góc vườn quê. Đơn sơ là vậy, mà thành một phần ký ức đi theo năm tháng.
Khi làm báo, và ngay cả bây giờ đã nghỉ hưu, có dịp đi đây đó nhìn những trò chơi đố lá của lũ trẻ tôi lại so sánh. Trò chơi này ở miền Trung gắn liền với các loại lá dai như dừa, bàng để thi chọi. Người chơi xé lấy phần sống dừa, hoặc bàng, gập đôi. Khi có hiệu lệnh, cả hai dùng lực kéo cọng dừa về phía mình. Cọng dừa của ai bị đứt, người đó thua. Người thắng do biết chọn cọng dừa già có độ dẻo dai hơn cọng dừa non dễ gãy. Thế mới thấy trò đố lá ở góc vườn quê tôi có nét rất riêng. Vườn nhà ai ở trung du cũng rộng, thường kề liền rừng đồi. Thảm thực vật ở đây phong phú, từ chanh, bưởi, nghệ, dong riềng, mồng tơi đến cây rừng, cây bụi mọc hoang như chạc chìu, chành chành, bái bái, sim, mua... Cách chơi quen thuộc của chúng tôi là “đố nhận mùi”. Chính những trải nghiệm tuổi thơ đã cho tôi thấy bao điều thú vị về cỏ cây, hoa lá. Nhưng trò chơi bi hạt dong thì có lẽ là “độc nhất vô nhị”.
Tuổi thơ là trò chơi. Trưởng thành là nỗi nhớ. Và khi quỹ thời gian của đời người dần ngắn lại thành ký ức sâu đậm. Nhất là sắc đỏ rực rỡ của hoa dong riềng vẫn như ngọn lửa cất giữ cả một miền quê ấm áp trong tim, thắp lên cả niềm tin và hy vọng.