Nâng cao khả năng cạnh tranh cho nông sản
Năm 2026 ngành nông nghiệp đặt mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 73-75 tỷ USD. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NNMT) cho biết, sẽ đẩy mạnh quản lý theo chuỗi, thúc đẩy chế biến sâu gắn với xây dựng thương hiệu và phát triển logistics; đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Chuẩn hóa vùng nguyên liệu cho xuất khẩu nông sản
Nhận định về xu hướng thị trường, ông Nguyễn Anh Phong, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường cho rằng, động lực mở cửa thị trường tiếp tục được củng cố thông qua việc ký kết các nghị định thư xuất khẩu, mở rộng cấp mã số sản phẩm và doanh nghiệp (DN) theo yêu cầu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC), đồng thời nâng cấp hệ thống phòng kiểm nghiệm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP, RCEP… đang tạo thêm dư địa tăng trưởng cho nông lâm thủy sản Việt Nam.
Cũng theo ông Phong, cạnh tranh quốc tế đang chuyển từ mô hình “sản lượng – giá” sang “chuẩn hóa – bền vững”, đòi hỏi DN phải nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, minh bạch truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu về môi trường, trách nhiệm xã hội.
Thống kê từ Bộ NNMT cho biết, năm 2025, toàn ngành đã cấp 9.336 mã số vùng trồng và 1.379 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu cho 20 loại quả tươi với diện tích khoảng 444.800 ha; duy trì hơn 2.000 chuỗi giá trị nông lâm thủy sản an toàn. Cả nước có 322.491 ha cây trồng và 7.960 cơ sở được chứng nhận VietGAP; 3.227 ha nuôi trồng thủy sản với 681 cơ sở đạt VietGAP; 1.308 trang trại, hộ chăn nuôi đạt VietGAHP; 32.690 ha cây trồng và 355 cơ sở được chứng nhận hữu cơ. Đây là nền tảng quan trọng để ngành tiếp tục mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh.
Mặc dù vậy theo phản ánh, nhiều DN chế biến, xuất khẩu vẫn rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu. Nguyên nhân không nằm ở sản lượng tổng thể, mà ở sự đứt gãy trong liên kết sản xuất. Nhiều hợp đồng giữa DN và nông dân mới dừng ở mua bán ngắn hạn, chưa phải là hợp đồng sản xuất đúng nghĩa.
Chủ động ứng phó với biến động của thị trường
Đánh giá bức tranh xuất khẩu nông sản 2 tháng đầu năm, Thứ trưởng Bộ NNMT Trần Thanh Nam cho biết, xuất khẩu nông lâm thủy sản những tháng đầu năm ghi nhận kết quả khả quan. Tuy nhiên, rủi ro lớn vẫn đến từ các rào cản phi thuế quan, biện pháp phòng vệ thương mại và diễn biến địa chính trị phức tạp, có thể ảnh hưởng đến vận tải, thanh toán và dòng chảy thương mại quốc tế.
Theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, trong thời gian tới, ngành không thể chỉ tập trung mở rộng thị trường hay bán được giá cao, mà phải chủ động nhận diện, dự báo và tham mưu giải pháp ứng phó với các rào cản phi truyền thống. Việc nâng cao năng lực dự báo, xây dựng kịch bản ứng phó với biến động thương mại quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Thứ trưởng cũng đề nghị các hiệp hội, DN và ngân hàng tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin sớm để ngành chủ động điều hành, tránh bị động khi thị trường biến động.
Về quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm trong nước cũng như xuất khẩu, Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh đây không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước mà cần sự phối hợp chặt chẽ của hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp. Trọng tâm hiện nay không chỉ là tiêu chuẩn, quy chuẩn mà đặc biệt là truy xuất nguồn gốc. Ngành sẽ chuyển mạnh từ kiểm tra theo kế hoạch sang kiểm tra đột xuất, tăng cường hậu kiểm và cảnh báo sớm; tập trung giám sát nguy cơ đối với sản phẩm chủ lực và vùng nguyên liệu tập trung, nhất là vùng phục vụ xuất khẩu. Nội dung giám sát trọng tâm gồm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh, hóa chất cấm và vi sinh vật gây hại.
Bên cạnh việc chuẩn hóa nguồn nguyên liệu theo các chuyên gia trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt ra tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và cả dấu chân carbon, việc phát triển công nghệ bảo quản càng trở nên cấp thiết.
Một trong những hướng ưu tiên hiện nay là xây dựng chuỗi cung ứng lạnh thông minh. Hệ thống này cho phép kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và môi trường vi khí hậu trong suốt quá trình bảo quản và vận chuyển, từ kho lạnh đến container và cảng biển.
Theo đánh giá khi công nghệ bảo quản được cải thiện, nông sản không chỉ giảm thất thoát mà còn có thể tiếp cận nhiều thị trường hơn, đặc biệt là các thị trường xa với tiêu chuẩn cao. Điều này giúp DN chủ động hơn trong lựa chọn phương thức vận chuyển, giảm chi phí logistics và nâng cao khả năng cạnh tranh.
Trong dài hạn, việc đầu tư vào công nghệ bảo quản và chế biến sâu sẽ giúp nông nghiệp Việt Nam chuyển dịch từ mô hình xuất khẩu nguyên liệu sang xuất khẩu sản phẩm có giá trị cao. Đây cũng là hướng đi cần thiết để nông sản Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.