Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Ngã ba Bông trên dòng sông Mã

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Ngã ba Bông trên dòng sông Mã

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Từ thượng nguồn chảy ra biển, sông Mã có nhiều ngã ba, hợp lưu hoặc chia tách dòng chảy theo các nhánh khác nhau. Trong đó, ngã ba Bông được ghi nhận là nơi hội tụ nhiều giá trị văn hoá đặc sắc nhất của cộng đồng sử dụng những ngôn ngữ nhóm tiếng Việt, nhánh Môn - Khmer thuộc họ Nam Á...

Ngã ba Bông - nơi sông Mã tách dòng. Ảnh: Đình Minh.
Ngã ba Bông - nơi sông Mã tách dòng. Ảnh: Đình Minh.

Nhận diện về một vùng đất

Sông Mã góp phần quan trọng làm nên vùng văn hóa xứ Thanh, tiêu biểu là tiểu vùng văn hóa Đông Sơn. Nói về văn hóa xứ Thanh, hầu hết chúng ta đều biết, sông Mã có đặc điểm địa lí và văn hóa giữ vị trí quan trọng nhất của vùng đất địa linh, nhân kiệt này. Ngoại trừ những ngã ba nối sông Mã với chi lưu nhỏ trên vùng thượng nguồn, khi dòng chính chảy vào đồng bằng Thanh Hóa, có thể kể đến: Ngã ba Hồ Nam, nơi sông Bưởi - một chi lưu chính thuộc phía tả ngạn hợp với sông Mã. Tiếp theo, ngã ba Bông, nơi dòng sông Mã tách ra nhánh nhỏ cũng ở phía tả ngạn với tên gọi sông Lèn, chảy ra biển tại cửa Sung. Sau đó, sông Mã nhận thêm nước từ chi lưu quan trọng nhất ở phía hữu ngạn là sông Chu tại ngã ba Giàng. Xuôi theo hạ nguồn, dòng sông có thêm một ngã ba nữa, gọi là ngã ba Tuần. Tại đây, sông Mã tách thành một chi lưu khác mang tên gọi sông Tào Xuyên, chảy ra cửa biển Lạch Trường. Dòng chính của sông Mã đổ về cửa Hới.

Trong số những ngã ba của sông Mã vừa kể ở trên thì ngã ba Bông được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa xứ Thanh nói đến nhất. Khi giới thiệu về văn hóa - xã hội liên quan đến dòng sông Mã huyền thoại, thường các học giả sẽ nhắc đến ngã ba Bông. Họ coi ngã ba này như một địa danh lịch sử nằm trong trung tâm của vùng đất lưu giữ những dấu ấn văn hóa đậm đà bản sắc. Mặc dù được nhận diện quan trọng như vậy nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thấy có được một lời giải thích về từ nguyên của yếu tố tên gọi “bông” là thành tố tên riêng trong phức thể địa danh ngã ba Bông. Nó rất có ý nghĩa để hiểu rõ lí do vì sao cư dân vùng đất này lựa chọn tên riêng đó, qua đó giúp chúng ta nhận biết đầy đủ giá trị văn hóa của tên gọi.

Bên cạnh đó, về mặt lịch sử, chỉ vào thời nhà Nguyễn, sông Mã mới có tên chung và trở thành dòng sông biểu trưng cho triều đại phong kiến này. Lí do để khẳng định điều đó là hình ảnh của dòng sông được đúc trên cửu đỉnh của nhà Nguyễn. Trong các “địa chí” được soạn thảo vào thời kỳ này, các học giả viết về lịch sử văn hóa có những mô tả về dòng sông Mã. “Thế nhưng, cho đến nay, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy trong các tài liệu “địa chí” ấy có một ghi chép chính thức nào ghi lại tên gọi những ngã ba của dòng sông đã được liệt kê ra ở trên”- GS.TS Trần Trí Dõi nói. Tuy nhiên, cũng theo GS.TS Trần Trí Dõi, trong tài liệu giới thiệu về địa lí lịch sử Việt Nam thuộc vùng đất quận Cửu Chân của nước Âu Lạc dưới ách đô hộ của nhà Hán, GS Đào Duy Anh đã nói đến một số ngã ba sông, trong đó có ngã ba Bông (Đào Duy Anh 1997, tr.50-57) trên dòng sông Mã.

Như vậy, qua tài liệu mà GS Đào Duy Anh diễn giải dựa vào mô tả trong Thủy kinh chú của Lệ Đạo Nguyên và một số tài liệu khác đã khảo giải, chú thích, chúng ta có được cơ sở để xác định rằng: Những ngã ba có tên gọi hiện nay là ngã ba Bông, ngã ba Giàng và ngã ba Tuần của sông Mã đã hiện diện từ giai đoạn lịch sử nước Âu Lạc thuộc Hán ở Việt Nam. Điều đó cho phép đưa thêm một nhận định nữa là những ngã ba này phải được cư dân người Việt sống vào thời kì tương ứng với thời gian tiền Việt và Việt - Mường cổ trong lịch sử ngôn ngữ người Việt đặt tên.

GS.TS Trần Trí Dõi (bên phải) tại buổi toạ đàm “Tiếng Việt và văn hoá người Việt nhìn từ Việt ngữ học lịch sử”. Ảnh: Tư liệu.
GS.TS Trần Trí Dõi (bên phải) tại buổi toạ đàm “Tiếng Việt và văn hoá người Việt nhìn từ Việt ngữ học lịch sử”. Ảnh: Tư liệu.

 Hàm chứa nhiều giá trị văn hóa

Trên cơ sở cách tiếp cận liên ngành nhưng lấy góc nhìn ngôn ngữ học là chính, GS.TS Trần Trí Dõi đưa ra cách giải thích về từ nguyên của địa danh ngã ba Bông. Kết quả cho thấy, ở lưu vực sông Mã, vào giai đoạn tiền sử tương ứng với thời kì văn hóa Đông Sơn, cư dân sinh sống ở đây chính là cộng đồng người sử dụng những ngôn ngữ nhóm tiếng Việt, nhánh Môn - Khmer thuộc họ Nam Á. Và chỉ từ đầu thế kỉ thứ XIX, khi con người nhận thức đầy đủ về địa lí thì mỗi con sông mới mang một tên gọi chung để chỉ dòng chảy của nó bắt đầu từ khởi nguồn ra đến biển. GS.TS Trần Trí Dõi nhận định rằng, cách gọi tên những ngã ba trên cùng một dòng sông cũng không nằm ngoài thông lệ ấy. Nhờ logic đó, chúng ta biết rằng, tên gọi những ngã ba của sông Mã đã liệt kê sẽ phụ thuộc vào việc cư dân chủ thể nơi họ cư trú, cũng như cách thức sử dụng ngôn ngữ như thế nào để định danh, hay gọi tên địa điểm nơi họ sinh sống.

Bởi vì, một tên riêng thuần Việt, trải qua hàng nghìn năm thăng trầm của lịch sử không thể không có những biến đổi về ngôn ngữ. Đồng thời sự biến đổi ấy không chỉ chịu sự tác động của bản thân ngôn ngữ mà chắc chắn đã chịu tác động của những yếu tố văn hóa - xã hội khác nhau, cũng như khả năng dùng văn tự để ghi chép lại. Hơn nữa, do tên riêng của những ngã ba đó chưa được tìm thấy ghi chép lại trong tài liệu lịch sử bằng văn tự chữ Hán, nên nó dễ chịu sự biến đổi của cách dùng trong dân gian. Chính vì thế, có thể từ nguyên của tên riêng đã bị mờ đi đến mức để tìm được cơ sở giải thích là việc không đơn giản, khiến người ta khó truy nguyên được tên gọi ban đầu của nó.

Từ cơ sở ngôn ngữ học, GS.TS Trần Trí Dõi cho rằng, tên gọi ngã ba Bông trên sông Mã thì yếu tố tên riêng “bông”, về nghĩa từ nguyên, có thể được hiểu là ngã ba của sông. Theo đó, thành tố ngã ba là thành tố chung của địa danh dùng để đánh dấu loại hình tên gọi, tức “ngã ba”; còn  thành tố “bông” là tên riêng được cư dân sinh sống ở vùng đất này dùng để định danh hay gọi tên vị trí địa lí mà họ đánh dấu. Theo thời gian lịch sử, cách gọi “ngã ba sông” của người dân trở thành tên gọi có tính chất định danh và nhờ đó, yếu tố sông trong tổ hợp tên gọi trở thành yếu tố tên riêng “bông” theo cách phát âm của người bản địa…

Việc giải thích từ nguyên của yếu tố tên riêng “bông” trong địa danh ngã ba Bông hàm chứa rất nhiều thông tin về văn hóa của vùng đất. Trước hết, nó cho chúng ta biết rằng, cư dân sinh sống ở đây tương ứng với giai đoạn tiền Việt trong lịch sử ngôn ngữ người Việt. Điều này có nghĩa, ở góc nhìn lịch sử ngôn ngữ, dấu vết văn hoá của cộng đồng, cư dân chủ thể đã được lưu giữ lại ở những địa danh, trong đó địa danh ngã ba Bông là một trường hợp. Như vậy, khi nhìn nhận lịch sử văn hóa trong sự tham chiếu với lịch sử ngôn ngữ người Việt, chúng ta biết rằng, giai đoạn tiền Việt của ngôn ngữ người Việt chính là giai đoạn, hay thời kỳ văn hóa Đông Sơn.

Điều đó cho phép hiểu, vùng đất xứ Thanh, nơi có ngã ba sông mang tên gọi ngã ba Bông, từ giai đoạn tiền sử trong lịch sử Việt Nam là vùng đất sinh sống của cư dân sử dụng nhóm ngôn ngữ của nhóm tiếng Việt, nhánh Môn - Khmer thuộc họ Nam Á. Chúng ta có được cơ sở ngôn ngữ để nói rằng, cư dân chủ thể của văn hóa Đông Sơn chính là những cư dân sử dụng ngôn ngữ nói trên với những nhóm tộc người khác nhau. Chính vì vậy, không phải không có lí do khi các nhà văn hóa viết về vùng đất mà trung tâm là ngã ba Bông lại luôn nói về sự đậm đặc truyền thống, địa linh nhân kiệt này.

Ngày nay, khu vực ngã ba Bông vẫn còn lưu giữ được những giá trị văn hoá riêng biệt. Và đền ba Bông, nơi thờ cô Bơ chính là nét chấm phá đặc sắc, góp phần làm nên linh hồn khí tiết đất trời của Tống Sơn. Cảnh sắc non nước hữu tình và sự linh thiêng của di tích đền ba Bông hấp dẫn du khách gần xa, giúp cho con người khi đặt chân tới đây có được cảm giác thanh thản, lắng lại trong tâm hồn, thoảng trong gió mùi trầm hương hòa cùng tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng hát chầu văn, in dấu trầm tích trong tín ngưỡng dân gian. Một năm, tại đền ba Bông có hai kỳ lễ hội. Kỳ đầu xuân sẽ diễn ra các trò chơi xưa cũ, tổ chức các hoạt động văn hóa của địa phương, phục dựng lại giá hầu. Đến tháng lễ hội sẽ diễn ra vừa phần lễ, vừa phần hội và phần rước trên bến, dưới thuyền về đền Hàn Sơn, cầu cho một năm mưa thuận, gió hoà, mùa màng bội thu, muôn dân ấm no, xã tắc yên bình...

ANH TUẤN