Báo Đại Đoàn Kết Thị trường

Ngành tôm đối mặt nhiều thách thức

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Ngành tôm đối mặt nhiều thách thức

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Ngành tôm đối mặt nhiều thách thức
Giá thức ăn tăng trong khi giá nguyên liệu giảm đã gây ra những thách thức không nhỏ cho ngành tôm.  

Trong giai đoạn cuối tháng 3, đầu tháng 4/2026, nhiều doanh nghiệp (DN) sản xuất thức ăn thủy sản đã điều chỉnh tăng giá bán, với mức tăng phổ biến từ vài trăm đồng đến khoảng vài nghìn đồng/kg. Điều này dẫn đến khả năng cạnh tranh của tôm Việt Nam trên thị trường quốc tế cũng chịu tác động.

Giá thức ăn tăng, giá nguyên liệu giảm

Theo phản ánh từ các DN, việc điều chỉnh giá chủ yếu bắt nguồn từ biến động của chi phí đầu vào như nguyên liệu sản xuất, logistics và tỷ giá. Trong bối cảnh các yếu tố này vẫn chịu ảnh hưởng từ thị trường quốc tế, các DN cho rằng mặt bằng giá tăng lên là phù hợp với nhịp biến động chung của thị trường.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep), việc nhiều DN đồng loạt điều chỉnh giá trong thời gian ngắn đã khiến chi phí đầu vào của người nuôi gia tăng đáng kể. Khi thức ăn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí nuôi, xu hướng này đang kéo mặt bằng giá thành sản xuất tôm đi lên, từ đó làm thu hẹp biên lợi nhuận của người nuôi.

Đáng chú ý, trong khi giá thức ăn tăng, giá tôm nguyên liệu trong nước lại có xu hướng giảm từ sau Tết Nguyên đán và giảm mạnh hơn trong nửa đầu tháng 4/2026. Ghi nhận tại nhiều địa phương cho thấy, giá tôm thẻ trong tháng 4 đã rời xa mức đỉnh của đầu tháng 1, đặc biệt ở phân khúc cỡ trung bình và cỡ lớn. Xu hướng giảm diễn ra trên diện rộng, phản ánh áp lực tiêu thụ khi thị trường xuất khẩu phục hồi chưa đồng đều, trong khi nguồn cung trong nước vẫn duy trì ở mức cao đầu vụ.

Diễn biến “ngược chiều” giữa giá đầu vào và đầu ra không chỉ bào mòn hiệu quả của người nuôi mà còn ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của tôm Việt Nam trên thị trường quốc tế. Trong khi chi phí nuôi trong nước tăng lên, các đối thủ như Ecuador hay Ấn Độ vẫn giữ được lợi thế về giá thành thấp, khiến khoảng cách cạnh tranh ngày càng nới rộng.

Áp lực càng gia tăng khi DN chế biến và xuất khẩu còn phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt từ các nguồn cung lớn, trong khi chi phí bao bì, vật tư, logistics và cước vận tải vẫn neo cao...

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ

Theo Vasep khi chi phí đầu vào tăng trong khi giá đầu ra giảm, áp lực không chỉ dừng ở người nuôi mà lan sang toàn bộ chuỗi. Trong bối cảnh hiện nay, việc duy trì sự ổn định của ngành cần sự chia sẻ và phối hợp giữa các bên.

Người nuôi cần có thêm thông tin thị trường để điều chỉnh kế hoạch sản xuất phù hợp. DN cung ứng đầu vào cần chia sẻ, đồng hành với thị trường để hạn chế thêm áp lực chi phí trong giai đoạn khó khăn. DN chế biến cần tăng cường liên kết với vùng nuôi nhằm ổn định nguồn cung. Các cơ quan quản lý cần theo dõi sát diễn biến để có giải pháp hỗ trợ kịp thời khi cần thiết. Việc hài hòa lợi ích giữa các mắt xích trong chuỗi sẽ là yếu tố quan trọng giúp ngành tôm giảm bớt khó khăn hiện tại, đồng thời duy trì năng lực cạnh tranh và ổn định nguồn nguyên liệu cho giai đoạn tới.

Thực tế không riêng ngành tôm mà ngành thủy sản nói chung cũng đang đứng trước nhiều thách thức. Nhất là vấn đề về nguyên liệu, biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, dịch bệnh diễn biến phức tạp, áp lực cạnh tranh thị trường gia tăng, cùng với các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Theo ông Nguyễn Quang Hùng - Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), năm 2025, sản lượng thủy sản đạt gần 10 triệu tấn, đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ tư thế giới về sản lượng và thứ ba về giá trị xuất khẩu, với kim ngạch khoảng 11,3 tỷ USD. Ngành tạo sinh kế cho hơn 4 triệu lao động, đồng thời giữ vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế biển, khu vực ven bờ, trung du và miền núi, cũng như trong việc bảo đảm an ninh chủ quyền quốc gia trên biển. Nhưng để đạt được mục tiêu đến năm 2030 đất 9,8 triệu tấn về sản lượng, xuất khẩu thủy sản 14 - 16 tỷ USD, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là yếu tố nền tảng cốt lõi, giữ vai trò then chốt trong quá trình phát triển, đúng với tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Ông Hùng cho rằng, trong giai đoạn tới, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ngành thủy sản sẽ tập trung vào: Phát triển giống thủy sản chủ lực sạch bệnh, tăng trưởng nhanh; ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ số; phát triển nuôi trồng thủy sản thông minh; hiện đại hóa khai thác, giảm tổn thất sau thu hoạch; phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong thủy sản.

Khanh Lê