Báo Đại Đoàn Kết Xã hội

Người thợ rèn và ngọn lửa chưa tắt ở Thái Nguyên

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Người thợ rèn và ngọn lửa chưa tắt ở Thái Nguyên

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Giữa nhịp sống hiện đại, khi những lò rèn thủ công dần biến mất bởi sự cạnh tranh của máy móc và hàng hóa công nghiệp, ở Thái Nguyên vẫn còn những người thợ ngày ngày đỏ lửa bên bễ than, miệt mài giữ nghề truyền thống của cha ông.

Giữa nhịp sống hiện đại với những dây chuyền sản xuất công nghiệp và máy móc ngày càng thay thế sức lao động thủ công, nhiều nghề truyền thống từng gắn bó với đời sống người Việt đang dần mai một. Nghề rèn cũng không nằm ngoài guồng quay ấy, không ít lò rèn đỏ lửa một thời nay đã tắt lửa vì thiếu người nối nghề; nhiều thợ rèn phải chuyển sang nghề khác để mưu sinh.

Giữa tiếng xe cộ ngược xuôi tấp nập, lò rèn của ông Đông Xuân Luyến nằm ngay mặt đường phố Chùa Hang (đối diện Bệnh viện đa khoa Đồng Hỷ), thuộc phường Linh Sơn, tỉnh Thái Nguyên. Xung quanh là quán cơm, hiệu thuốc, cửa hàng tạp hóa tấp nập người qua lại, nhưng vẫn có tiếng búa chan chát, tiếng sắt thép va đập và hơi nóng từ lò than vẫn đều đặn vang lên mỗi ngày tạo nên sự khác biệt.

Xưởng rèn chỉ rộng chưa đầy 20 m², thực tế khu vực làm nghề chỉ chừng 5 - 6 m², nhưng bên trong gần như không thiếu thứ gì. Một góc là lò nung đỏ rực, góc khác đặt máy cắt, máy mài, máy khoan... Đôi bàn tay chai sần của người thợ hơn 40 năm trong nghề thoăn thoắt cầm búa, một tay đưa sản phẩm vào lò nung rồi tôi luyện bằng kinh nghiệm tích lũy qua thời gian.

Ông Luyến kể, nghề rèn của gia đình đã có từ nhiều đời trước. Từ thời các cụ, rồi đến bố ông, sau này truyền lại cho anh em ông tiếp tục theo nghề. Ngày nhỏ, ông lớn lên bên ánh lửa lò rèn, quen với tiếng búa đập từ khi còn chưa biết cầm búa. Đến khoảng 14 - 15 tuổi, thì chính thức cầm búa học nghề nối nghiệp cha mình.

“Ngày trước nghề rèn vất vả lắm, nóng nực quanh năm, quần áo lúc nào cũng ám khói than. Nhưng được làm từ nhỏ nên quen, rồi yêu nghề lúc nào không biết”, ông Luyến chia sẻ.

Một chiếc xà beng đã cũ, bị cùn đầu đang được ông Luyến tôi luyện như mới.
Một chiếc xà beng đã cũ, bị cùn đầu đang được ông Luyến tôi luyện như mới.

Cũng có quãng thời gian ông từng nghĩ đến việc bỏ nghề. Sau những năm 1990, khi cơ khí phát triển, hàng công nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều, nghề rèn thủ công trở nên chật vật hơn. Ông thử chuyển sang làm mộc, cơ khí, chế tạo nông cụ, nuôi ong và nhiều công việc khác để tìm hướng đi mới.

Thế nhưng, đi một vòng rồi cuối cùng ông vẫn quay về với lò rèn. Ông cùng anh trai tiếp tục duy trì lò rèn của gia đình. Thế nhưng tuổi tác và sức khỏe khiến anh trai ông không còn đủ sức theo nghề. Một mình ông vẫn kiên trì giữ lò đỏ lửa, dù công việc đã ít hơn trước.

“Làm nghề khác thấy không hợp, cảm giác nghề rèn như ăn vào máu rồi, bỏ không được. Giờ mình tự làm, chủ động về thời gian”, ông nói.

Có thời điểm, chỉ một khu vực vài cây số có hàng chục lò rèn hoạt động nhộn nhịp. Người chuyên rèn dao, người làm lưỡi cưa, người chuyên phôi thép, cuốc xẻng hay đục phá đá. Mỗi lò có một thế mạnh riêng, khách hàng lúc nào cũng đông. Nhưng theo thời gian, máy móc hiện đại và hàng sản xuất công nghiệp giá rẻ dần thay thế sản phẩm thủ công. Nhiều lò rèn lần lượt đóng cửa, người theo nghề cũng thưa dần

Điều khiến lò rèn nhỏ của ông Luyến vẫn tồn tại đến hôm nay chính là chất lượng sản phẩm và cái tâm với nghề. Ngoài dao kéo, cuốc xẻng, ông còn chuyên sửa chữa các loại mũi khoan, đục, xà beng, đinh ghim đường nhựa cho các đội thi công giao thông, phá dỡ công trình hay thợ điện nước.

Theo ông Luyến, nhiều sản phẩm công nghiệp hiện nay được sản xuất hàng loạt bằng máy móc nên chất lượng thép và độ tôi luyện không bằng hàng thủ công. Những chiếc đinh ghim đường nhựa hay mũi khoan sau một thời gian sử dụng thường bị cong, gãy hoặc nhanh cùn. Sau khi được ông sửa chữa, tôi thép lại, sản phẩm cứng hơn và bền hơn.

Anh Nguyễn Văn Thành, hiện làm cho doanh nghiệp xây dựng giao thông cho biết, đội của anh thường xuyên mang đinh ghim đường nhựa đến lò rèn của ông Luyến để sửa chữa.

“Đinh sau khi đóng xuống nền đá và mặt đường lu lèn rất dễ cong, gãy. Nhưng mang đến đây làm lại thì cứng hơn hẳn, đóng xuống rất ngọt. Không chỉ tiết kiệm chi phí hơn mua mới mà chất lượng còn tốt hơn nhiều loại sản xuất công nghiệp”, anh Thành nói.

Mặc dù lò rèn không đặt biển quảng cáo, nhưng nhờ tay nghề và sự uy tín, lò rèn của ông Luyến trở thành địa chỉ quen thuộc của nhiều lao động phổ thông quanh vùng. Từ thợ xây dựng, phá dỡ nhà cửa đến thợ điêu khắc, điện nước… ai có dụng cụ hỏng đều tìm đến ông.

Ngoài lò than, búa tạ, thì hiện nay, người thợ rèn đã sử dụng thêm một số máy móc như máy cắt, mài để làm nghề.
Ngoài lò than, búa tạ, thì hiện nay, người thợ rèn đã sử dụng thêm một số máy móc như máy cắt, mài để làm nghề.

Có những câu chuyện cho thấy, người thợ này không chỉ là kiếm tiền, mà còn làm việc bằng cả trái tim với nghề rèn qua câu chuyện nghe ông kể lại: “Có hôm người ta mang đến lúc tối muộn rồi bảo sáng sớm phải lấy đi làm tiếp. Mình nghĩ lao động chân tay vất vả lắm, nếu không có đồ nghề thì hôm sau phải nghỉ việc, mất công mất tiền. Thế là lại nhóm lửa làm tiếp, nhiều hôm đến hơn 23 giờ mới xong”.

Anh Nguyễn Văn Dũng, người chuyên làm nghề phá dỡ nhà cửa tại Thái Nguyên cho biết, anh đã gắn bó với lò rèn của ông Luyến nhiều năm nay. Công việc phá dỡ công trình đòi hỏi dụng cụ phải chịu lực lớn, sử dụng liên tục nên rất nhanh hỏng. Các loại xà beng, mũi đục hay búa phá bê tông nếu dùng hàng công nghiệp nhiều khi chỉ được vài hôm là cong hoặc mẻ đầu.

Theo anh Dũng, đồ nghề của anh Luyến là người có tâm với nghề, đồ làm rất bền. Quan trọng nhất là thép được tôi kỹ nên cứng mà không giòn, dùng lâu vẫn chắc tay. Có những bộ xà beng hay mũi đục tôi dùng mấy năm chỉ cần mang đến đây sửa lại là tiếp tục làm được.

Giữa thời buổi mà nhiều nghề truyền thống đang dần biến mất, lò rèn nhỏ của ông Đông Xuân Luyến vẫn đỏ lửa mỗi ngày như một minh chứng cho sự bền bỉ của người lao động thủ công. Người thợ rèn ấy vẫn âm thầm sống với nghề bằng đôi tay chai sần và tình yêu đang góp phần giữ lại một phần ký ức của làng nghề xưa giữa phố thị hiện đại.

Toán Nguyễn