Báo Đại Đoàn Kết Xã hội

Những kỷ niệm tác nghiệp ở Trường Sa

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Những kỷ niệm tác nghiệp ở Trường Sa

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Những kỷ niệm tác nghiệp ở Trường Sa
Các cán bộ chiến sỹ trên đảo Trường Sa Lớn đọc báo trong giờ phút rảnh rỗi.

Cũng như bất cứ người dân Việt Nam nào, tôi ao ước một lần được tới Trường Sa, chạm vào vùng lãnh thổ xa xôi thiêng liêng của Tổ quốc. Rồi nghề làm báo không chỉ giúp tôi đạt được ước mơ ấy. Tôi đã tới và đã quay trở lại Trường Sa, chứng kiến những đổi thay ở các đảo Sơn Ca, Sinh Tồn, Thuyền Chài, Tiên Nữ, Song Tử Tây, Trường Sa Lớn… trong niềm hân hoan vô hạn.

Chuyến đi hơn ngàn hải lý

Nhớ chuyến đi Trường Sa (đặc khu Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà) lần đầu tiên vào đầu năm 2019, tôi được Ban tổ chức báo trước khoảng ba tuần. Đó là thời gian chờ đợi, bồi hồi, háo hức kèm theo không ít điều lo lắng, về sóng gió và hải trình lênh đênh gần 10 ngày liên tục cũng như trách nhiệm tác nghiệp mà lãnh đạo giao phó. Trước đó, tôi chưa từng trải qua chuyến hải trình nào lâu như vậy. Tôi đã hỏi thăm kinh nghiệm từ những đồng nghiệp đi trước, chuẩn bị kỹ nhiều đồ nghề tác nghiệp, mua thêm thẻ nhớ, pin máy ảnh, đèn flash, bao chống nước mặn… Tôi còn cẩn thận mua cả thuốc cảm, thuốc chống say sóng, bao tay, mũ vải mềm… Kèm theo đó, tâm trạng háo hức khi gần tới ngày xuất phát thậm chí còn làm tôi mất ngủ. Với nghề làm báo, những chuyến công tác dài ngày không phải hiếm nhưng đi Trường Sa là một điều gì đó rất khác. Cảm giác tự hào về nghĩa vụ thiêng liêng không chỉ trong những bài báo. Đó là vùng đất đặc biệt, với những con người đặc biệt, làm một công việc đặc biệt là ngày đêm canh giữ biển trời Tổ quốc. Năm đó, tôi đi cùng đoàn công tác của lãnh đạo TP Hồ Chí Minh trên con tàu kiểm ngư 290. Lúc ấy, tàu kiểm ngư 290 là một trong những con tàu lớn và hiện đại nhất. Tàu xuất phát từ cảng của Lữ đoàn 125 ở Cát Lái. Những ngày tiếp theo lênh đênh trên biển, ngoài cảm giác bồng bềnh của sóng gió, điều khiến tôi ngỡ ngàng là sự rộng dài của Tổ quốc. Những con số, các kinh độ, vĩ độ… mà tôi từng đọc trên sách báo, thậm chí ghi nhớ trong đầu không có ý nghĩa gì cả. Chỉ khi trực tiếp di chuyển nhiều ngày trên vùng lãnh hải, ngoài xa thềm lục địa chúng ta mới càng thấm thía rằng đất nước rộng dài hơn tất cả các con số. Hơn những gì chúng ta từng tưởng tượng. Những bình minh rồi hoàng hôn trên biển cả mênh mông tưởng như vô tận cùng cảm giác “biển này là của ta, đảo này là của ta” trong bài hát “Khúc quân ca Trường Sa” của nhạc sỹ Đoàn Bổng càng làm chúng tôi thêm yêu và trân quý từng vùng lãnh thổ của Tổ quốc.

Rồi đoàn chúng tôi cũng khu vực đảo Song Tử Tây vào lúc tối muộn. Tàu neo lại gần đảo với khoảng cách vài cây số, đủ để chúng tôi nhìn thấy ánh đèn sáng lấp lánh trên đảo, thấy ngọn hải đăng chớp tắt, chớp tắt đều đặn hướng dẫn cho tàu bè của ngư dân vào ban đêm. Đêm đó, các thành viên đoàn công tác ai cũng thức rất khuya, háo hức đứng lên phía boong tàu dõi ánh mắt về phía đảo. Sau này, dù có thêm các chuyến hải trình khác, cảm giác mặc áo khoác chống gió lạnh, dõi mắt nhìn đảo Song Tử Tây hôm đó vẫn sống lại trong tôi. Đó là cảm giác sắp chạm vào giấc mơ cuộc đời.

Với công việc của người làm báo, tôi vừa tác nghiệp ghi nhận, phỏng vấn thông tin, vừa tranh thủ khám phá những điều đặc biệt ở Trường Sa. Vì thời gian không nhiều, tôi và các đồng nghiệp khác thường phân công mỗi người làm một việc, nhất là những buổi lên các đảo nổi. Có người sẽ đi theo lãnh đạo, có người sẽ đi phỏng vấn cán bộ chiến sỹ, phỏng vấn người dân… để chắc chắn rằng, mọi tư liệu về cuộc sống ở các đảo ngoài Trường Sa đều được ghi nhận bằng hình ảnh, âm thanh, clip… Với những đảo chìm, quy mô nhỏ hơn thì công việc của chúng tôi dễ dàng hơn một chút. Nhưng thời gian thường gấp gáp hơn. Bởi đặc khu Trường Sa (trước kia là huyện đảo Trường Sa) có quy mô rất lớn, trải dài. Trong khi một số đảo nằm khá gần nhau thì một số đảo lại cách nhau cả trăm cây số, có khi mất nửa ngày để di chuyển từ đảo này tới đảo kia. Đó cũng là nguyên nhân mà hầu hết các chuyến đi công tác ở Trường Sa đều có hải trình khoảng hơn 1.000 hải lý, với thời gian khoảng trên dưới 10 ngày.

Tác giả bài viết trên đảo Sinh Tồn trong chuyến công tác năm 2022.
Tác giả bài viết trên đảo Sinh Tồn trong chuyến công tác năm 2022.

Một điều đặc biệt nữa, nếu chúng tôi mong mỏi được đặt chân lên đảo thì các cán bộ chiến sỹ người dân trên đảo cũng mong mỏi được gặp mọi người ở trong đất liền ra không kém. Trên đảo, không khí thân tình và ấm áp, cảm giác như đang sống trong một gia đình là điều bất kỳ ai cũng cảm nhận được. Mọi người hỏi thăm nhau về quê quán, nhận đồng hương, kể chuyện về cuộc sống nơi đầu sóng ngọn gió, những kế hoạch tương lai, những nơi từng công tác để tìm sợi dây liên kết nào đó rồi cùng hoà vào tiếng cười, tiếng hát. Cùng với sự phát triển của đất nước, cuộc sống của cán bộ chiến sỹ người dân ở Trường Sa những năm qua không còn khó khăn về vật chất, thiếu thốn thực phẩm nữa. Bên ấm trà nóng, tách cà phê, chúng tôi tặng cán bộ chiến sỹ người dân những tờ báo, cuốn sách để mọi người đọc, hiểu thêm về những đổi thay hàng ngày của đất nước. Ở đây, mọi thứ đều được truyền tay nhau, nâng niu và quý trọng.

Nhìn những chiến sỹ trên đảo Trường Sa Lớn-trái tim của đặc khu Trường Sa cẩn thận lật từng trang báo, nhìn từng dòng chữ, ngắm từng bức hình… dưới tán cây bàng vuông lấp lánh ánh nắng mà tôi không khỏi bồi hồi. Ở đây, mọi thứ đều được trân quý bằng tình yêu và sự trân trọng, những điều mà cán bộ chiến sỹ luôn thấm nhuần.

Những lời nhắn gửi từ đảo xa

Là nhà báo, công việc của chúng tôi là truyền tải thông tin. Nhưng trong các chuyến tác nghiệp ở Trường Sa, công việc ấy còn đặc biệt hơn nữa. Bởi tôi không chỉ có nhiệm vụ thông tin tới bạn đọc, độc giả mà còn thông tin tới rất nhiều người thân, bạn bè, gia đình của cán bộ chiến sỹ, người dân đang sinh sống trên đảo.

Nhớ một lần tới đảo Song Tử Tây, tôi được gặp mấy chiến sỹ hải quân mới ra công tác trên đảo được nửa năm. Các chiến sỹ đều sinh sống ở TP Hồ Chí Minh như Gò Vấp, Tân Bình hay quận 8 cũ. Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, chia sẻ về bản thân, các chiến sỹ trẻ ấy luôn nhắn nhủ gia đình, cha mẹ, người thân hãy an tâm. Các chiến sỹ luôn công tác tốt, vững vàng nơi đầu sóng ngọn gió, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Nhưng điều đặc biệt hơn, khi về đất liền, tôi gửi hình ảnh và những lời nhắn ấy, bằng các đoạn clip ngắn đã ghi trên đảo, nhiều bậc cha mẹ vô cùng bất ngờ. Thậm chí một cô ở bên Gò Vấp phải mất mấy giây mới nhận cậu con trai lớn của mình. Cô bảo, mới năm ngoái khi học lớp 12, cha mẹ vẫn còn đưa đón đi học vì sợ đường sá xe cộ đông đúc. Vậy mà mấy tháng sau, trong bộ đồ Hải quân nhân dân Việt Nam, con chững chạc và rắn rỏi hơn rất nhiều. Môi trường quân đội và sóng gió Trường Sa làm cha mẹ thấy an tâm hơn khi nhìn thấy con trò chuyện.

Ở chuyến đi đầu tiên vào năm 2019 ấy, liên lạc từ các đảo Trường Sa với đất liền vẫn khá khó khăn. Sóng điện thoại cũng chập chờn. sau này khi trở lại Trường Sa vào năm 2022, sóng điện thoại liên lạc đã tốt hơn đáng kể với mạng Viettel. Thậm chí các cán bộ chiến sỹ người dân trên đảo có thể xài được internet nhưng không ổn định, không gửi được hình ảnh (chỉ gửi được tin nhắn chữ). Việc có thể liên lạc thông suốt bằng điện thoại cũng giúp cuộc sống cán bộ chiến sỹ, người dân trên đảo tốt hơn. Và những lời nhắn thông qua các đoàn công tác như lần đầu tôi tới Trường Sa cũng không cần thiết. Tuy vậy, điều mà mọi người ở Trường Sa nhắn gửi về đất liền luôn là sự an tâm.

Nhớ một Trường Sa yên bình

Điều bất ngờ khi đặt chân lên các đảo ở Trường Sa là khung cảnh yên bình, đẹp đẽ đến không ngờ, thậm chí còn rất thơ mộng. Có lẽ đoàn công tác của chúng tôi chỉ thực hiện chuyến đi trong mùa biển yên bình. Mùa gió bão, không chỉ các chuyến đi Trường Sa mà những chuyến biển thông thường của ngư dân, cán bộ chiến sỹ công tác ở khu vực biển miền Trung cũng phải được tính toán rất kỹ lưỡng.

Những kỷ niệm tác nghiệp ở Trường Sa

Các đảo nổi đều trồng nhiều cây xanh. Ngoài những cây đã trở thành “đặc sản” của Trường Sa vì chống chịu tốt với thời tiết khắc nghiệt như bàng vuông, mù u… thì tôi cũng dễ dàng bắt gặp những cây ăn trái quen thuộc như dừa, chuối, đu đủ, xoài… cùng rất nhiều các loại rau xanh để cải thiện bữa ăn hàng ngày. Trong khi ở đảo chìm, các cán bộ chiến sỹ tận dụng không gian chật hẹp chủ yếu trồng rau xanh, các loại cây dây leo như bầu, bí, mướp, khổ qua… vừa để tạo không xanh mát, vừa làm thực phẩm. Những vườn cây rau này cũng chính là khoảnh khắc yên bình, là sợi dây nối giữa đất liền và biển khơi và cũng là minh chứng rằng bất cứ tấc đất nào của Tổ quốc đều có thể nảy mầm xanh, dù nơi biên cương núi cao hay hải đảo xa xôi.

Cũng xin nói thêm, với vị trí cách đất liền khoảng 500-700km, các đảo ở Trường Sa thường đón nhiều cơn bão hơn so với các vùng lãnh thổ khác của đất nước. Có rất nhiều cơn bão, áp thấp nhiệt đới lúc hình thành trên biển Đông và khi vào đất liền đã suy yếu, không còn gây ra tác động đáng kể nào. Nhưng chúng vẫn có thể làm gãy đổ cây, gây ảnh hưởng tới đời sống cán bộ chiến sỹ người dân trên các đảo. Sau những chuyến đi công tác Trường Sa, tới tận bây giờ tôi vẫn có thói quen khi nghe dự báo thời tiết thì chú ý tới những cơn bão cách xa đất liền hàng trăm cây số. Bởi tôi biết có những người quen, nhân vật trong bài báo, trong trang viết của tôi đang đối mặt với chúng, những cơn bão có thể suy yếu khi bản tin vừa được phát sóng.

Nếu đi dưới những tán cây ở đảo nỗi mang tới cảm giác như ở một vùng quê yên bình thì trên các chìm mang tới cảm giác vừa vững chắc, lại không kém phần thơ mộng. Tôi đã được tới nhiều đảo chìm như Đá Lát, Đá Nam, Cô Lin, Tiên Nữ, Đá Tây… với kiến trúc xây dựng tương đối giống nhau, chủ yếu phục vụ mục đích quốc phòng. Nhưng bên cạnh đó, nét thơ mộng, thậm chí đẹp đẽ không thua bất cứ hòn đảo du lịch nào vẫn hiện diện ở đây. Từ bãi cát vàng óng ả, cụm san hô nhấp nhô nửa nổi nửa chìm, những con sóng dập dìu, làn nước trong xanh nhìn thấy nhiều cầu gai (nhum biển), hải sâm, ốc… Với điều kiện tự nhiên đặc thù, đảo chìm và các rạn hô quanh đảo rộng hàng chục cây số luôn là ngư trường dồi dào các loại hải sản quý hiếm giá trị cao, được ngư dân lặn lội từ đất liền ra khai thác.

Nhiều bức ảnh tôi đã ghi lại và sau này nhận ra rằng, nếu không ghi chú là Trường Sa, nhiều người sẽ tưởng tượng tới một bãi biển thơ mộng nào đó mà khách du lịch thường xuyên ghé tới. Thiên nhiên ở các đảo Trường Sa đẹp đẽ và thơ mộng tới nỗi nhiều cô gái trong đoàn công tác chúng tôi ao ước được trở lại Trường Sa để chụp… ảnh cưới. Một mong ước vừa đời thường, vừa đặc biệt ở một nơi cũng rất đặc biệt.

Người ta nói, khi thực hiện một chuyến hải trình dài, lúc trở lại đất liền phải mất 1-2 ngày mới trở lại trạng thái bình thường, không còn chông chênh vì sóng biển. Thế nhưng những con sóng ở Trường Sa vẫn dập dềnh trong tâm hồn tôi rất lâu, thậm chí tới nhiều năm sau này. Là người cầm bút, tôi bắt đầu viết những điều mình thấy về cuộc sống của cán bộ chiến sỹ người dân trên Song Tử Tây, Trường Sa Lớn, Thuyền Chài, Sinh Tồn… Từ những bài báo, trang sách để mọi người hiểu hơn về cuộc sống bình dị nhưng cũng rất cao cả của cán bộ chiến sỹ người dân trên đảo. Mỗi bài viết, trang sách ấy như một con sóng êm dịu vang vọng mãi trong tim tôi, cho tới tận bây giờ.

Dù đã đi, đã trở lại nhưng thời gian tới, nếu có cơ hội tôi sẽ tiếp tục trở lại Trường Sa, trở lại những hòn đảo tiền tiêu xa xôi của Tổ quốc để thấy đất nước rộng rãi tươi đẹp đang thay đổi từng ngày. Những nơi ấy, cùng với các con người đáng mến vẫn ngày đêm canh giữ biển trời luôn là điều gì đó thôi thúc mãnh liệt để những người làm báo như chúng tôi tìm tới. Bởi mỗi khoảnh khắc, mỗi thời gian, mỗi năm tháng ở Trường Sa đều đáng được ghi lại, không chỉ bởi những người làm như chúng tôi mà còn là tất cả những người dân khắp mọi miền Tổ quốc. n

Đoàn Đại Trí