Báo Đại Đoàn Kết Quốc hội

Nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài
Ông Phan Văn Mãi phát biểu tại phiên họp (Ảnh: Media Quốc hội)

Thường trực Uỷ ban Kinh tế và Tài chính bày tỏ quan điểm cơ bản thống nhất với định hướng mở rộng tiếp cận thị trường, phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cần rà soát kỹ quy định giao Chính phủ “xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường” đối với các điều kiện được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Thu hút đầu tư theo địa bàn, vùng động lực, cực tăng trưởng

Ngày 30/9, tiếp tục phiên họp thứ 6 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, về mở rộng tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, thể chế hóa Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị, nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường theo lộ trình, đánh giá đầy đủ tác động, đảm bảo công khai, minh bạch, thống nhất, không phân biệt đối xử. Khắc phục hạn chế của danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường. Thúc đẩy nâng hạng thị trường chứng khoán. Đối với đổi mới ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số.

Dự thảo luật Bổ sung 4 hình thức hỗ trợ: Phát triển chuỗi cung ứng, sản xuất, cải tiến sản phẩm, công nghệ; đầu tư ban đầu, tạo tài sản cố định; hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ. Chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang hỗ trợ gắn với hiệu quả dự án, quản trị vòng đời và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Bổ sung miễn, giảm tiền sử dụng biển. Hoàn thiện đối tượng, nguyên tắc, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt.

Dự thảo Luật cũng cho phép Chính phủ quyết định gói vượt trội gắn với kết quả thực hiện cam kết đối với một số dự án cần thu hút, tác động lan tỏa. Hỗ trợ chuyển đổi, phát triển khu công nghiệp sinh thái thông qua khấu hao nhanh cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, chứng nhận sinh thái và doanh nghiệp sinh thái. Thời hạn dự án trong khu có thể kéo dài nhưng không vượt quá 70 năm. Hướng tới tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái khoảng 10% trên tổng số khu công nghiệp trên cả nước.

Định hướng thu hút đầu tư theo địa bàn, vùng động lực, cực tăng trưởng. Ưu tiên công nghệ cao, xanh, hiện đại, giá trị gia tăng. Vùng vệ tinh tập trung chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ hỗ trợ. Địa bàn khác lựa chọn dự án phù hợp với lợi thế và từng bước nâng chất lượng.

Dự án Luật tiếp tục cải thiện thủ tục đầu tư. Mở rộng thủ tục đầu tư đặc biệt cho dự án thuộc các ngành, lĩnh vực thực hiện ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, khu chức năng trong khu kinh tế gắn với quy định về khu đất đã thu hồi, giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý.

Đề nghị làm rõ các nguyên tắc, tiêu chí cơ bản xác định dự án được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt

Thẩm tra sơ bộ dự án Luật, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, đa số ý kiến Thường trực Uỷ ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng, nhất là Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và Kết luận số 18-KL/TW, đồng thời tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách.

Về nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, theo ông Mãi, Thường trực Uỷ ban cơ bản thống nhất với định hướng mở rộng tiếp cận thị trường, phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cần rà soát kỹ quy định giao Chính phủ “xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường” đối với các điều kiện được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Đối với các điều kiện được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh hoặc nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan thẩm tra đề nghị cần làm rõ phạm vi, mức độ và hình thức pháp lý của việc nới lỏng, tránh trường hợp văn bản của Chính phủ làm thay đổi hoặc hạn chế hiệu lực của văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Đối với điều kiện được quy định tại nghị định của Chính phủ thì về nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Chính phủ; đối với điều kiện thuộc thẩm quyền của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cần nghiên cứu cơ chế phù hợp với thẩm quyền của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Riêng đối với điều kiện được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, đề nghị nghiên cứu cơ chế nới lỏng có tính chất tạm thời, theo đó Chính phủ thực hiện sau khi có ý kiến thống nhất của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và có trách nhiệm trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp gần nhất. Đồng thời, việc nới lỏng cần thực hiện theo lộ trình phù hợp, trên cơ sở đánh giá đầy đủ, toàn diện tác động, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực nhạy cảm về quốc phòng, an ninh. Cần làm rõ cả việc áp dụng đối với các điều kiện tiếp cận thị trường được quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Liên quan đến ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, ông Mãi cho rằng, đây là nhóm chính sách có phạm vi rộng và sử dụng nguồn lực ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước. Thường trực Uỷ ban đề nghị làm rõ ngay trong Luật các nguyên tắc, tiêu chí cơ bản để xác định dự án được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt, nhất là các tiêu chí về “tác động lan tỏa”, “tạo động lực phát triển” và đóng góp nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, hạn chế giao quá nhiều nội dung có tính quyết định cho văn bản dưới luật.

Đặc biệt, cần làm rõ cơ chế gắn ưu đãi, hỗ trợ với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư. Các tiêu chí như vốn đầu tư, vốn giải ngân, chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, giá trị sản xuất trong nước cần được lượng hóa; xác định rõ mức độ hoàn thành, trường hợp chỉ hoàn thành một phần cam kết và cơ chế duy trì, điều chỉnh, giảm hoặc thu hồi ưu đãi, hỗ trợ.

Đối với các khoản chi được hỗ trợ, cần làm rõ đối tượng, điều kiện, phạm vi, mức hỗ trợ và cơ chế kiểm soát; đồng thời quy định nguyên tắc không hỗ trợ trùng một khoản chi, giới hạn hoặc trần hỗ trợ, cơ chế xác minh, thu hồi và trách nhiệm kiểm tra, giám sát. Cần xác định cơ quan chịu trách nhiệm kiểm soát việc cộng gộp hỗ trợ giữa các chính sách và nghiên cứu khả năng tích hợp, chia sẻ dữ liệu trên Cổng một cửa đầu tư quốc gia.

Việt Thắng