Phát triển bền vững là động lực tăng trưởng cho doanh nghiệp
Chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và sử dụng hiệu quả nguồn lực đang được coi là cách thức tạo ra tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Ngày 5/10, tại Hà Nội, Diễn đàn Doanh nghiệp phát triển Bền vững Việt Nam - VCSF 2026 được tổ chức với chủ đề “Tăng trưởng bứt phá - Phát triển bền vững: Hai mục tiêu, một hành trình”.
Chuyển đổi xanh là một khoản đầu tư
GS.TS Nguyễn Xuân Thắng - Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, đã chia sẻ những định hướng, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước trong đổi mới mô hình phát triển, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số một cách bền vững, đồng thời làm rõ vị trí, vai trò và đóng góp của doanh nghiệp trong mô hình phát triển mới.
Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên đặt ra yêu cầu không chỉ về tốc độ mà còn về chất lượng tăng trưởng. Nền kinh tế cần chuyển mạnh từ mô hình dựa nhiều vào mở rộng nguồn lực sang mô hình dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
Ông Hồ Sỹ Hùng - Chủ tịch VCCI nhấn mạnh muốn tăng trưởng nhanh mà vẫn bền vững, cần tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi đơn vị nguồn lực thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chuyển đổi số và sử dụng hiệu quả năng lượng, tài nguyên.
Từ thực tiễn của cộng đồng doanh nghiệp, Chủ tịch VCCI cho rằng, cần thúc đẩy 4 chuyển dịch lớn: từ tăng trưởng dựa vào nguồn lực sang tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo; từ coi chuyển đổi xanh là yêu cầu tuân thủ sang coi đây là động lực cạnh tranh; từ từng doanh nghiệp riêng lẻ sang liên kết theo chuỗi giá trị; và từ tư duy “doanh nghiệp thực hiện chính sách” sang “Nhà nước và doanh nghiệp đồng kiến tạo phát triển”.
Những chuyển dịch này cho thấy tăng trưởng hai con số không thể chỉ được giải quyết bằng việc gia tăng đầu tư hay mở rộng quy mô sản xuất. Động lực quan trọng hơn nằm ở khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, nâng năng suất lao động và hình thành những ngành, lĩnh vực, mô hình kinh doanh mới.
Theo ông Hồ Sỹ Hùng, trong mô hình phát triển bền vững, doanh nghiệp được đặt vào vị trí trung tâm. Nghị quyết 57-NQ/TW xác định doanh nghiệp là một chủ thể, nguồn lực và động lực quan trọng của quá trình phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong khi đó, yêu cầu phát triển mạnh kinh tế tư nhân cũng mở ra dư địa lớn để khu vực doanh nghiệp trở thành một động lực quan trọng hơn của nền kinh tế.

Doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm những phương thức tạo ra giá trị cao hơn từ lao động, vốn và nguyên liệu. Công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và quản trị hiện đại sẽ ngày càng quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cùng với đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh cũng cần được nhìn nhận theo cách tiếp cận mới. Các tiêu chuẩn về phát thải, truy xuất nguồn gốc và quản trị bền vững ngày càng trở thành điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Vì vậy, chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn có thể trở thành khoản đầu tư giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường.
Tạo những mô hình có thể đo lường
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Binu Jacob - Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam, Đồng Chủ tịch VBCSD, nhấn mạnh phát triển bền vững chỉ thực chất và bền lâu khi gắn với lợi ích kinh tế thiết thực của từng mắt xích trong chuỗi giá trị, từ nông dân, nhà máy đến các doanh nghiệp cung ứng bao bì, nguyên liệu và logistics.
Ông Binu Jacob, kể câu chuyện thực tiễn về hành trình của hạt càphê Việt. Ông thông tin số liệu tháng 8/2026 của Tổ chức Càphê Quốc tế, Việt Nam đã chính thức vượt Brazil để trở thành quốc gia xuất khẩu cà phê hòa tan lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, ông Binu Jacob nhấn mạnh phần lớn kim ngạch vẫn đến từ cà phê nhân. Do vậy, bài toán đặt ra cho Việt Nam lúc này là làm sao để chuyển từ tăng trưởng sản lượng sang gia tăng chuỗi giá trị.
Lời giải nằm ở việc nâng cấp đồng bộ toàn chuỗi, ông Binu Jacob chia sẻ kinh nghiệm thông qua chương trình NESCAFÉ Plan tại Tây Nguyên, mô hình nông nghiệp tái sinh đã giúp tái canh hơn 100.000 ha cà phê già cỗi, tiết kiệm đến 60% lượng nước tưới. Điểm mấu chốt là các doanh nghiệp tiên phong không coi những tiêu chuẩn khắt khe quốc tế (như Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu-EUDR) là rào cản kỹ thuật, mà nhờ số hóa dữ liệu nông hộ và bản đồ vùng nguyên liệu, chuyển hóa quy định này thành lợi thế cạnh tranh tuyệt đối.
Ông nhìn nhận việc đồng hành với nông dân là khoản đầu tư cho năng suất và sinh kế lâu dài.
Ở góc độ đóng góp của các tập đoàn đa quốc gia, ông James Crampton, Giám đốc Ngoại vụ cấp cao HEINEKEN Việt Nam, khẳng định sự lớn mạnh của doanh nghiệp FDI phải đi liền với việc nâng cao năng lực cho các nhà cung cấp địa phương, hướng tới hiện thực hóa tham vọng "Vì một Việt Nam tốt đẹp hơn."

Theo ông Hồ Sỹ Hùng, địa phương không chỉ là nơi thực hiện chính sách mà phải trở thành một chủ thể kiến tạo phát triển, phát huy lợi thế riêng, lựa chọn đúng động lực tăng trưởng và gắn tăng trưởng với chất lượng môi trường, chất lượng sống.
Như vậy, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần đồng thời tạo dựng một môi trường thể chế ổn định, minh bạch, dễ dự báo; thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; nâng cao năng suất; phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và tăng cường liên kết.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Lê Hoàng Minh - Giám đốc điều hành Sản xuất Vinamilk cho rằng, để đi từ chính sách đến hành động, điều quan trọng là phải tạo ra những mô hình có thể đo lường, kiểm chứng và nhân rộng. Đây là cách để các mục tiêu về giảm phát thải, phát triển xanh được chuyển thành kết quả cụ thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch VBCSD, khoảng cách cần thu hẹp nằm giữa cam kết, chiến lược, dự án và kết quả. Doanh nghiệp muốn tiếp cận nguồn lực chuyển đổi cần mục tiêu đo lường được, dữ liệu tin cậy, dự án cụ thể và khả năng chứng minh hiệu quả. Đây cũng là yêu cầu khi doanh nghiệp tiếp cận tài chính xanh.
Ông Nguyễn Quang Vinh nhấn mạnh: “Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy ‘có cam kết’ sang tư duy ‘có năng lực thực thi’”.
Ở phía hỗ trợ, ông Vinh đề nghị Nhà nước tiếp tục xây dựng thể chế rõ ràng, ổn định, có khả năng dự báo; phát triển hạ tầng năng lượng, số và dữ liệu; tạo điều kiện thử nghiệm, nhân rộng sáng kiến. Các định chế tài chính cần đồng hành với doanh nghiệp; hiệp hội và tổ chức hỗ trợ tăng kết nối tri thức, nguồn lực và đối thoại chính sách.

Trong chuỗi cung ứng, ông Vinh đề xuất doanh nghiệp đầu chuỗi chia sẻ tiêu chuẩn, dữ liệu, kinh nghiệm và cơ hội tiếp cận nguồn lực cho nhà cung cấp, để cùng chuyển đổi.
VCCI–VBCSD cũng hướng các hoạt động hỗ trợ vào việc giúp doanh nghiệp xác định hiện trạng và những vấn đề cần cải thiện. Bộ chỉ số doanh nghiệp bền vững (CSI), chương trình hỗ trợ thực hành môi trường, xã hội và quản trị (ESG), kết nối doanh nghiệp và đối thoại chính sách được ông Vinh đặt trong mục tiêu này. Sự đồng hành cần giúp doanh nghiệp giải quyết bài toán cụ thể, từng bước nâng năng lực thực hiện chuyển đổi.
Ông Nguyễn Quang Vinh cho biết kiến nghị từ diễn đàn sẽ được tổng hợp, báo cáo lên Chính phủ và Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững, đồng thời làm cơ sở để VBCSD–VCCI tiếp tục kết nối, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp.