Phủ Dầy: Nơi hội tụ, lan tỏa tín ngưỡng thờ Mẫu
Mỗi độ Tết đến, Xuân về, khi nén hương trầm được thắp lên, lòng người lại lắng xuống trong niềm tri ân cội nguồn. Trong chiều sâu tâm thức ấy, hình ảnh người Mẹ - biểu tượng của sinh sôi, chở che, bao dung - luôn hiện hữu, thiêng liêng nhưng gần gũi.
Tín ngưỡng thuần Việt
Trong đời sống tâm linh người Việt, tín ngưỡng thờ Mẫu được xem là tín ngưỡng thuần Việt, linh thiêng nhưng gần gũi, không tách rời đời sống thường nhật, nơi hình tượng người Mẹ được tôn vinh bằng tất cả lòng biết ơn.
Tìm về quần thể di tích Phủ Dầy (xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình), thờ thánh mẫu Liễu Hạnh - nơi được xem là một trong những trung tâm lớn của tín ngưỡng thờ Mẫu, chúng tôi cảm nhận sâu sắc hơn ý nghĩa nhân văn, sự gần gũi của tín ngưỡng này.
Quần thể di tích Phủ Dầy gồm Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát, Phủ Nguyệt Du Cung, Lăng Mẫu cùng nhiều đền phủ lớn nhỏ khác tạo thành một không gian văn hóa - tâm linh rộng lớn ở vùng đồng bằng sông Hồng.

Đã từ rất lâu, Phủ Dầy là địa chỉ hành hương của nhiều người, nhất là vào tháng Ba Âm lịch hằng năm, dịp Phủ Dầy mở hội với tâm thức “Tháng Tám giỗ cha, Tháng Ba giỗ mẹ”.
Nhưng không chỉ mỗi mùa lễ hội, vào những ngày Tết đến, Xuân về dòng người hành hương về Phủ Dầy cũng rất đông. Người đến xin lộc đầu năm, người dâng hương tạ ơn, người đơn giản chỉ tìm chút bình yên cho tâm hồn. Đơn giản, sự linh thiêng ở nơi đây không tạo khoảng cách, mà như vòng tay mở rộng của người Mẹ đón con về.
Giữa thời khắc giao hòa của đất trời, chuông ngân giữa sân phủ, khói hương bảng lảng, không gian Phủ Dầy như lắng đọng hơn, vừa trầm mặc vừa gần gũi, ấm áp. Bởi một lẽ đơn giản, thánh Mẫu trong tâm thức dân gian không phải đấng tối cao mà là người Mẹ bao dung, nhân từ. Trước ban thờ thánh Mẫu, người ta có thể thổ lộ những điều riêng tư nhất.
Tại đây, chúng tôi gặp những gia đình ba thế hệ cùng dâng hương. Người bà chắp tay khấn nguyện, người mẹ nhẹ nhàng dặn con nhỏ giữ trật tự trước ban thờ, gợi nhắc tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tiếp nối của đạo hiếu; giữ gìn tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ là bảo tồn một nghi lễ, mà là giữ gìn một hệ giá trị: lòng biết ơn, sự bao dung, tinh thần hướng thiện, ý thức cộng đồng. Trong khoảnh khắc đất trời giao hòa, cúi đầu trước ban thờ Mẫu, chúng ta như được nhắc nhở về lẽ sống nhân ái, bao dung như tấm lòng của người Mẹ bao đời.
Theo các công trình nghiên cứu, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ bắt nguồn từ truyền thống tôn vinh người Mẹ trong văn hóa Việt, gắn với hệ thống các vị Thánh Mẫu cai quản ba miền vũ trụ: Thiên phủ (trời), Địa phủ (đất), Thoải phủ (nước). Sau này phát triển thành Tứ phủ với sự bổ sung Nhạc phủ (rừng núi). Trong đó, thánh Mẫu Liễu Hạnh - một trong “Tứ bất tử” trong tâm thức dân gian người Việt- là một trong những hiện thân tiêu biểu. Tại Phủ Dầy, nơi gắn với sự tích giáng trần và hiển thánh của bà, hình tượng Mẫu Liễu Hạnh vừa mang vẻ uy nghi, vừa gần gũi như người mẹ trong mỗi gia đình.

Giá trị cốt lõi của tín ngưỡng nằm ở tinh thần nhân văn sâu sắc: tôn vinh người Mẹ, đề cao vai trò của người phụ nữ, hướng con người đến đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, sống thiện lương, trọng nghĩa tình.
“Ai trong chúng ta cũng có Mẹ. Mẹ sinh ra và nuôi dưỡng ta cả về thể chất lẫn tâm hồn. Vì thế, thờ Mẫu là thờ một biểu tượng rất đỗi thân thương, gần gũi” - ông Trần Vũ Toán, thủ nhang phủ Nguyệt Du Cung (quần thể di tích Phủ Dầy) từng chia sẻ.
Một trong những nghi lễ gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu là nghi lễ chầu văn, hầu đồng. Theo nhiều nhà nghiên cứu, đây là một hình thức diễn xướng tích hợp nhiều giá trị nghệ thuật, từ âm nhạc đến thời trang, hát múa, tạo nên một hình thức sân khấu tâm linh huyền ảo.
Lời văn có thể mượn từ ca dao, dân ca, hoặc cả văn chương bác học để ca ngợi công trạng của những người có công với dân, với nước. Như giá đồng chúng tôi có dịp được chứng kiến tại phủ Vân Cát (Quần thể di tích Phủ Dầy), các thanh đồng tái hiện lại thân thế, công trạng của Phùng Khắc Khoan. Qua đây chúng ta hiểu thêm tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ nuôi dưỡng đời sống tâm linh mà còn bảo lưu, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật truyền thống.
Trong một giá hầu, âm nhạc chầu văn, trang phục truyền thống, các hình thức diễn xướng dân gian cùng hiện diện, tạo nên một không gian thẩm mỹ đặc biệt. Cung văn đàn hát, thanh đồng nhập vai các thánh, cộng đồng cùng tham dự, cùng hòa mình trong một không gian, không khí đậm tính linh thiêng. Sinh thời, Giáo sư Trần Văn Khê từng đánh giá nghệ thuật hát văn là đóng góp đáng kể của người Việt vào kho tàng âm nhạc thế giới.
Từ các năm 2012, 2013, “Nghi lễ Chầu văn của người Việt” và “Lễ hội Phủ Dầy” đã được Bộ Văn hóa-Thể thao & Du lịch cấp bằng chứng nhận “Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia”. Đặc biệt, ngày 1/12/2016, UNESCO đã ghi danh “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” vào Danh mục “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.
Hiểu đúng để bảo vệ, phát huy giá trị của di sản
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Thư, nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình), một trong những thành viên Ban xây dựng Hồ sơ “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” trình UNESCO, sau khi việc thực hành tín ngưỡng này được UNESCO ghi danh đặt ra vấn đề cần hiểu đúng về di sản cũng như việc ghi danh của quốc tế. Qua đó, nhằm thực hành cho đúng và bảo vệ, phát huy được những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng, của di sản này.
Cụ thể, theo ông Nguyễn Văn Thư, UNESCO ghi danh di sản này không ở góc độ tôn giáo, tín ngưỡng mà ở những thực hành liên quan đến di sản. Đó là những sáng tạo văn hóa của cộng đồng, có giá trị nhân văn, tiến bộ thể hiện bản sắc của cộng đồng. “Tên di sản được ghi danh là “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”, không phải toàn bộ tín ngưỡng thờ Mẫu. UNESCO không công nhận di sản mà là ghi danh vào danh sách “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” - ông nhấn mạnh.
Theo ông, sau khi di sản được UNESCO vinh danh, nhiều cơ quan đơn vị đã phối hợp với các tổ chức cộng đồng, chủ thể của di sản tổ chức tọa đàm, hội thảo khoa học và “diễn xướng hầu đồng”. “Không thể phủ nhận các hoạt động đó đã huy động nguồn lực xã hội hóa, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị của di sản. Tuy nhiên cũng có cơ quan, đơn vị không có chức năng quản lý, nghiên cứu về di sản văn hóa cũng tổ chức các hoạt động trên theo kiểu trăm hoa đua nở” - ông nhìn nhận.
Cũng theo ông Nguyễn Văn Thư, có đơn vị còn đứng ra tổ chức “liên hoan hầu đồng”, tổ chức cho các ông/bà đồng thực hành nghi lễ chầu văn diễn ra trên sân khấu của các thiết chế văn hóa công cộng. “Không nên hiểu việc được UNESCO ghi danh như là “giấy phép hành nghề hầu đồng”. Hầu đồng là nghi lễ tín ngưỡng, chỉ diễn ra trong không gian đền phủ trang nghiêm, chỉ có thể do các ông/bà đồng - những người được coi là có căn quả - thực hành. Việc đưa hầu đồng ra nhà hàng, tổ chức thi xem thanh đồng nào hát hay, thanh đồng nào múa dẻo… là trần tục hóa tín ngưỡng, làm sai lệch bản chất di sản” - ông nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Văn Thư cho rằng, hiện nay một bộ phận công chúng còn hiểu đơn giản, đánh đồng, coi di sản “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” chỉ có hầu đồng. Theo ông, hầu đồng chỉ là một thành tố của di sản thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Bên cạnh đó còn có nhiều hình thức thực hành khác như nghi lễ thờ cúng, các hoạt động diễn ra trong lễ hội, sự tham gia của cộng đồng, sự sáng tạo các giá trị văn hóa liên quan đến di sản…
Rồi nữa, việc lầm tưởng đây là việc quốc tế vinh danh riêng các ông/bà đồng cũng rất phổ biến. Theo ông, hiểu như vậy là sai lệch, chưa toàn diện, đầy đủ. Trong thực hành nghi lễ hầu đồng, vai trò của các ông/bà đồng rất quan trọng. Nhưng để thực hành một giá hầu đồng đòi hỏi có sự kết hợp của nhiều người cùng tham gia, trong đó có các cung văn, những người trang trí không gian thực hành, đồ lễ, trang phục, đạo cụ...“Đánh đồng, coi di sản này chỉ có hầu đồng và các thanh đồng là chưa thấy hết được sự phong phú của các giá trị của di sản” - ông nhìn nhận.