Phúc lợi động vật cần được đưa vào chuỗi giá trị chăn nuôi
Phúc lợi động vật ngày càng gắn với an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, tính bền vững và trách nhiệm xã hội trong thương mại quốc tế. Tại Việt Nam, dù nội dung này đã được quy định trong pháp luật, việc cụ thể hóa tiêu chí, xây dựng dữ liệu và tạo động lực để doanh nghiệp (DN), người chăn nuôi thực hiện vẫn còn nhiều khoảng trống.
Từ “đối xử nhân đạo” đến tiêu chuẩn của chuỗi giá trị
Ngày 23/9, tại Hà Nội, Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hiệp hội Trang trại và DN nông nghiệp Việt Nam tổ chức Hội thảo “Phúc lợi động vật - Đề xuất thể chế, chính sách và thực thi”.
Theo TS Hạ Thúy Hạnh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và DN nông nghiệp Việt Nam, phúc lợi động vật đã được đưa vào hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt thông qua Luật Thú y năm 2015 và Luật Chăn nuôi năm 2018. Điều 21 Luật Thú y quy định trách nhiệm quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, vận chuyển phù hợp với từng loài; giảm thiểu đau đớn, sợ hãi và đối xử nhân đạo với động vật trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, vận chuyển, giết mổ, tiêu hủy, phòng bệnh, chữa bệnh và nghiên cứu khoa học.

Luật Chăn nuôi năm 2018 dành Mục 2, Chương V quy định về đối xử nhân đạo với vật nuôi, bao gồm chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ và sử dụng trong nghiên cứu khoa học. Các yêu cầu đáng chú ý là cung cấp đủ thức ăn, nước uống; chuồng trại phù hợp; hạn chế chấn thương, sợ hãi; không đánh đập, hành hạ; gây ngất trước khi giết mổ và không để vật nuôi chứng kiến đồng loại bị giết mổ.
Tuy nhiên, theo bà Hạ Thúy Hạnh, chính sách về phúc lợi động vật vẫn còn những khoảng trống. Các quy định hiện nằm rải rác trong nhiều lĩnh vực, trong khi tiêu chí cụ thể đối với từng loài chưa đầy đủ. Chẳng hạn, đối với gia cầm, còn thiếu các tiêu chí theo loài và phương thức nuôi. Với lợn, các yêu cầu về mật độ chuồng nuôi, máng ăn, điều kiện đối với từng loại lợn chưa được quy định đầy đủ. Chăn nuôi bò sữa và thủy sản cũng cần tiếp tục hoàn thiện các chỉ số phúc lợi…

Một khoảng trống khác là dữ liệu quốc gia. Hiện chưa có hệ thống thống kê đầy đủ về tỷ lệ trang trại đạt tiêu chuẩn phúc lợi động vật, số động vật bị thương hoặc chết trong quá trình vận chuyển, hiệu quả gây ngất tại cơ sở giết mổ hay tỷ lệ cơ sở giết mổ đạt yêu cầu. Theo bà Hạ Thúy Hạnh, cách tiếp cận của Việt Nam hiện chủ yếu hướng đến vật nuôi khỏe mạnh, tăng năng suất, giảm dịch bệnh, bảo đảm an toàn sinh học và an toàn thực phẩm. Trong khi đó, phúc lợi động vật còn đòi hỏi đánh giá việc con vật được chăm sóc, nuôi dưỡng và đối xử như thế nào, mức độ đau đớn và sợ hãi mà chúng phải chịu.
DN đầu tư, thị trường cần ghi nhận
Từ thực tiễn địa phương, bà Nguyễn Thị Hồng Minh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản Bắc Ninh cho rằng, phúc lợi động vật không phải là nội dung “thêm vào” mà cần trở thành một cấu phần của chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững. Muốn phúc lợi động vật đi vào thực tế phải đưa nội dung này vào các chương trình người chăn nuôi đang thực hiện như an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh, VietGAHP, chuỗi liên kết, truy xuất nguồn gốc và phát triển sản phẩm hàng hóa.
Bà Minh cho biết, hiện toàn tỉnh có khoảng 171.626 cơ sở chăn nuôi. Khoảng 500 cơ sở nuôi gà đẻ và khoảng 12 triệu gà thả đồi đã áp dụng hình thức không lồng hoặc bán chăn thả. Các mô hình cho thấy cải thiện điều kiện nuôi có thể giúp vật nuôi giảm stress, hạn chế bệnh tật và nâng cao chất lượng đàn. Vấn đề là người chăn nuôi phải bỏ thêm tiền để cải tạo chuồng trại, thay đổi phương thức chăm sóc, đầu tư thiết bị, ghi chép và kiểm tra, trong khi giá sản phẩm chưa chắc cao hơn.

Ở góc độ DN, ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Nông nghiệp BAF Việt Nam, cho biết DN hiện có 15 trang trại đạt chứng nhận Global S.L.P.; toàn bộ hệ thống trang trại được vận hành theo các yêu cầu của tiêu chuẩn, trong đó có nội dung về phúc lợi động vật.
Để kiểm soát việc thực hiện, DN đưa các yêu cầu về phúc lợi vào quy trình nội bộ, phân công người chịu trách nhiệm, giám sát và lưu hồ sơ. Camera, phần mềm quản lý chăn nuôi, hồ sơ số và truy xuất nguồn gốc được sử dụng để theo dõi. Cùng với đó là quản lý sức khỏe đàn, an toàn sinh học, dinh dưỡng, theo dõi điều kiện chuồng nuôi, chẩn đoán và xét nghiệm sớm. Một số trang trại sử dụng thiết bị tiêm không kim đối với những loại thuốc phù hợp nhằm giảm tổn thương cho vật nuôi. Mặc dù vậy, theo ông Minh, điều DN băn khoăn là làm nhiều hơn nhưng sản phẩm bán ra chưa có sự khác biệt rõ ràng. Doanh nghiệp phải đầu tư thêm cho chuồng trại, thiết bị, quy trình, giám sát và hồ sơ. Trong khi đó, trên thị trường, sản phẩm được sản xuất theo yêu cầu phúc lợi động vật và sản phẩm thông thường chưa có cơ chế nhận diện đủ rõ, giá bán cũng chưa phản ánh phần chi phí bỏ ra.
Xuất phát từ thực tế trên, các đại biểu cho rằng, cần thống nhất khái niệm và cách tiếp cận về phúc lợi động vật. Thay vì chỉ dừng ở “đối xử nhân đạo”, việc đánh giá cần nhìn vào sức khỏe, hành vi và trạng thái thể chất, tinh thần của vật nuôi. Tiếp đó là xây dựng bộ chỉ số phúc lợi động vật quốc gia.
Theo bà Hạ Thúy Hạnh, Việt Nam cần nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chuẩn phù hợp với điều kiện trong nước, đồng thời có khả năng được các quốc gia ASEAN công nhận; xây dựng bộ chỉ số phúc lợi động vật quốc gia, cụ thể hóa các tiêu chí về sức khỏe, dinh dưỡng, môi trường, hành vi và trạng thái tinh thần.
Giai đoạn 2026-2035 cần được xem xét là thời kỳ xây dựng và hoàn thiện khung chính sách về phúc lợi động vật. Trong bối cảnh Luật Chăn nuôi và Luật Thú y sẽ được sửa đổi, nội dung này cần được xem xét trong quá trình hoàn thiện pháp luật.