Báo Đại Đoàn Kết Thị trường

Quản lý trưng bày thuốc lá: Tác động đúng điểm tiếp xúc để tối ưu hóa nguồn lực

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Quản lý trưng bày thuốc lá: Tác động đúng điểm tiếp xúc để tối ưu hóa nguồn lực

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Đề xuất cấm trưng bày sản phẩm thuốc lá tại điểm bán đang thu hút sự chú ý của giới chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp. Để chính sách đi trúng đích mà không gây lãng phí nguồn lực xã hội, việc khoanh vùng phạm vi điều chỉnh đúng nơi công chúng tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm sẽ bảo đảm mục tiêu y tế công cộng song hành cùng tính khả thi trong thực thi.

Những băn khoăn về khả năng thích ứng với các yêu cầu quản lý mới đã được thảo luận tại Hội thảo “Hộ kinh doanh và động lực tăng trưởng” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức ngày 21/8/2026, với sự tham gia của đại diện Bộ Tài chính, Hội Tư vấn Thuế Việt Nam (VTCA), các chuyên gia kinh tế và cộng đồng hộ kinh doanh.

Thảo luận tại Hội thảo, đại diện Hộ kinh doanh cho biết việc thay đổi cách trưng bày có thể kéo theo yêu cầu bố trí lại quầy kệ, nơi chứa hàng và quy trình phục vụ khách. Ảnh: VCCI.
Thảo luận tại Hội thảo, đại diện Hộ kinh doanh cho biết việc thay đổi cách trưng bày có thể kéo theo yêu cầu bố trí lại quầy kệ, nơi chứa hàng và quy trình phục vụ khách. Ảnh: VCCI.

Đặt trong bối cảnh Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đang được hoàn thiện, đề xuất chuyển từ cơ chế cho phép trưng bày giới hạn tại điểm bán lẻ (không quá một bao, một tút hoặc một hộp của mỗi nhãn hiệu) sang cấm hoàn toàn việc trưng bày ở cả cơ sở bán lẻ lẫn bán buôn đã làm dấy lên nhiều tranh luận.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng Ban Pháp chế VCCI, nhận định rằng thuốc lá là ngành hàng đặc thù, việc cấm quảng bá trên các phương tiện truyền thông là điều hợp lý. Dù vậy, nếu mở rộng quy định sang cấm hoàn toàn việc trưng bày tại điểm bán sẽ đặt ra không ít thách thức cho hộ kinh doanh, đặc biệt trong cách thức cung cấp thông tin và phục vụ khách hàng.

Phân định chức năng bán buôn - bán lẻ: Đúng đối tượng để chính sách đi trúng đích

Mục tiêu cốt lõi của việc hạn chế trưng bày tại điểm bán là giảm thiểu tối đa mức độ công chúng, đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên, nhìn thấy và tiếp xúc với hình ảnh bao bì sản phẩm thuốc lá. Đặt trong mối tương quan với mục tiêu này, bản chất vận hành giữa khâu bán lẻ và bán buôn lại có sự phân định hoàn toàn rạch ròi.

Nếu như điểm bán lẻ là không gian mở diễn ra các tương tác mua bán trực tiếp với người tiêu dùng cá nhân, nơi hình ảnh hàng hóa dễ dàng lọt vào tầm mắt của thanh thiếu niên thì cơ sở bán buôn lại hoàn toàn khác. Mô hình này thuần túy đóng vai trò mắt xích trung chuyển trong chuỗi cung ứng, chỉ thực hiện chức năng lưu kho, phân loại và giao nhận đơn hàng giữa các thương nhân với nhau, hoàn toàn không phục vụ nhu cầu mua sắm trực tiếp của người tiêu dùng cuối cùng.

Sự khác biệt về chức năng này đặt ra câu hỏi về mức độ phù hợp khi áp dụng cùng một yêu cầu hạn chế trưng bày cho cả hai nhóm đối tượng. Nếu mục tiêu chính sách là giảm mức độ công chúng tiếp xúc với sản phẩm thuốc lá, thì trọng tâm điều chỉnh nên đặt vào nơi trực tiếp xảy ra sự tiếp xúc đó - tức là điểm bán lẻ - thay vì mở rộng đồng loạt sang cả những khâu vận hành phía sau như bán buôn, lưu kho và phân phối.

Thực tế tại Việt Nam cho thấy, hàng hóa tại các cơ sở bán buôn chủ yếu được đóng gói theo từng kiện, thùng lớn và liên tục được bốc dỡ, kiểm đếm để cung ứng cho mạng lưới phân phối. Bản chất của kho hàng bán buôn không hướng tới việc phô diễn sản phẩm để kích thích thị giác hay mời gọi tiêu dùng. Do đó, nếu áp dụng quy định cấm trưng bày lên cả phân khúc bán buôn, doanh nghiệp sẽ phải gánh thêm hàng loạt chi phí đầu tư kho bãi, dựng vách che chắn và thay đổi toàn bộ quy trình vận hành. Những gánh nặng chi phí phát sinh này không mang lại đóng góp thực chất hay tương xứng nào cho mục tiêu giảm thiểu mức độ tiếp xúc của cộng đồng với khói thuốc.

Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng các đạo luật kiểm soát thuốc lá trên thế giới đều giới hạn phạm vi dưới khái niệm “retail display ban” (Quy định cấm trưng bày tại khâu bán lẻ) hoặc “point-of-sale display ban” (Lệnh cấm trưng bày tại điểm bán).

Điển hình tại Australia, các bang áp dụng quy định Retail Display Ban đối với các cửa hàng bán lẻ (retail outlets), yêu cầu sản phẩm thuốc lá phải được để ngoài tầm nhìn của công chúng tại các điểm bán lẻ. Tương tự, Đạo luật Smokefree Environments Amendment Act 2011 của New Zealand cũng chỉ hướng tới việc ngăn chặn hiển thị bao bì thuốc lá tại điểm bán lẻ cho người dùng cuối cùng, tách biệt khỏi các hoạt động lưu kho, phân phối bán buôn của doanh nghiệp.

Bài học quốc tế: Năng lực tuân thủ phân khúc và rủi ro từ thị trường ngầm

Từ góc độ quản trị, việc xác định sai phạm vi áp dụng không chỉ làm tiêu hao nguồn lực của doanh nghiệp mà còn gây quá tải cho lực lượng thanh tra. Đánh giá về sự khác biệt giữa các mô hình phân phối, tiến sĩ Dato’ Sri Akhbar Bin Satar, Chủ tịch Hiệp hội Liêm chính và Quản trị Malaysia (MIG), chia sẻ: “Các quy định thường được thiết kế xoay quanh mục tiêu chính sách chung, nhưng khả năng tuân thủ giữa các doanh nghiệp lại có sự khác biệt rất lớn. Chuỗi siêu thị lớn có nhân sự tuân thủ chuyên trách, mặt bằng chuẩn hóa và nguồn lực tài chính để cải tạo nhanh chóng. Ngược lại, cửa hàng nhỏ do hộ gia đình tự quản lý hay ki-ốt lại có nguồn lực hạn chế, phụ thuộc vào hệ thống kệ đơn sơ sẵn có”.

Tiến sĩ Dato’ Sri Akhbar Bin Satar cho biết cần một khoảng thời gian chuyển tiếp hợp lý để quy định được truyền thông hiệu quả đến từng nhóm doanh nghiệp. Ảnh: I-Mae Liew.
Tiến sĩ Dato’ Sri Akhbar Bin Satar cho biết cần một khoảng thời gian chuyển tiếp hợp lý để quy định được truyền thông hiệu quả đến từng nhóm doanh nghiệp.
Ảnh: I-Mae Liew.

Theo vị tiến sĩ, việc ban hành một quy định và thực thi nó trên thực tế không hẳn là một. Cần khoảng thời gian thỏa đáng để truyền thông, làm rõ quy định, chuẩn bị vận hành và tiếp nhận phản hồi. Do đó, quá trình thực thi cần nhìn nhận đúng năng lực thực tế của từng nhóm doanh nghiệp. Trước khi ban hành hạn chế mới, nhà hoạch định phải trả lời rõ: nhà bán lẻ đã sẵn sàng chưa, hướng dẫn kỹ thuật có đơn giản không, và cơ quan chức năng có đủ sức giám sát hay không?

Bên cạnh câu chuyện áp lực hạ tầng, việc siết quá mức các quy định quầy kệ đối với hệ thống kinh doanh chính ngạch còn tiềm ẩn nguy cơ mở đường cho thuốc lá lậu. Trả lời phỏng vấn báo chí về vấn đề này, ông Rohan Pike, cựu điều tra viên Cảnh sát Liên bang Australia và từng phụ trách lực lượng đặc nhiệm thuốc lá của Lực lượng Biên phòng Australia (ABF), nhấn mạnh: “Ban hành một lệnh 'cấm' thì rất dễ, nhưng thực thi nó mới là điều khó khăn hơn nhiều. Lực lượng cảnh sát thường không được cấp thêm nguồn lực để thực thi các quy định mới này. Khi khiến cho thuốc lá hợp pháp trở nên kém hấp dẫn, chính sách có thể vô tình khiến sản phẩm lậu trở nên hấp dẫn hơn.

Lực lượng Biên phòng Australia thu giữ thuốc lá lậu nhập khẩu vào thành phố Melbourne. Ảnh: Luis Enrique Ascui.
Lực lượng Biên phòng Australia thu giữ thuốc lá lậu nhập khẩu vào thành phố Melbourne. Ảnh: Luis Enrique Ascui.

Hạn chế khả năng nhận diện của sản phẩm hợp pháp tại môi trường bán lẻ là một “món quà” dành cho tội phạm, theo vị cựu điều tra viên. Về bản chất, các đối tượng buôn lậu vốn dĩ đã cất giấu hàng hóa dưới gầm quầy và che khuất khỏi tầm mắt. Việc cấm sản phẩm hợp pháp trưng bày đã tước đi một trong những lợi thế cạnh tranh của thị trường chính ngạch trước các dòng sản phẩm lậu giá rẻ. Tại Australia, khi các hạn chế bị siết lại quá mức, thị phần thuốc lá lậu đã bùng nổ lên tới 80%, gây thất thu ngân sách hàng tỷ AUD và châm ngòi cho các làn sóng bạo lực”.

Ba khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, với mạng lưới thương mại truyền thống gồm hàng trăm nghìn tiệm tạp hóa, việc mở rộng phạm vi cấm trưng bày sang cả khâu bán buôn sẽ làm dàn trải lực lượng thực thi và gây lãng phí nguồn lực xã hội. Việc xác định đúng đối tượng không làm thay đổi mục tiêu kiểm soát tác hại thuốc lá; ngược lại, còn giúp bộ máy quản lý dồn sức kiểm tra đúng nơi có tương tác trực tiếp với người tiêu dùng.

Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm quốc tế, quá trình hoàn thiện Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (sửa đổi) có thể cân nhắc tập trung vào ba giải pháp căn cơ.

Trước hết là yêu cầu khoanh vùng đúng phạm vi điều chỉnh: chính sách chỉ nên áp dụng tại các điểm bán lẻ nơi công chúng trực tiếp tiếp xúc với sản phẩm, đồng thời loại trừ khâu bán buôn và kho bãi trung chuyển để tránh gây lãng phí chi phí vận hành cho chuỗi cung ứng. Song song đó, quy định cần phân biệt rạch ròi giữa hành vi quảng bá hình ảnh với việc niêm yết bảng giá và tên sản phẩm dạng chữ thuần túy. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm quyền tiếp cận thông tin theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Luật Giá, vừa tạo công cụ trực quan giúp lực lượng chức năng nhận diện, phân biệt hàng chính ngạch với hàng lậu. Cuối cùng, việc thiết lập lộ trình chuyển tiếp từ 18 đến 24 tháng kết hợp thí điểm tại một số địa bàn trước khi mở rộng trên toàn quốc, sẽ tạo khoảng thời gian cần thiết để cơ quan quản lý ban hành hướng dẫn kỹ thuật, đồng thời giúp hàng trăm nghìn hộ kinh doanh kịp thời thích ứng, giảm thiểu tối đa rủi ro vi phạm ngoài ý muốn.

Tường Minh