Tạo đà để ngành nông nghiệp bứt phá
Năm qua, ngành nông nghiệp đã đạt bước tiến quan trọng, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 70 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước, điều này đã tạo tiền đề quan trọng để ngành bước vào thời kỳ mới.
Các mặt hàng chủ lực tiếp tục khẳng định vị thế
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong năm 2025 giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ đạt hơn 17 tỷ USD, tăng 6,4% so với năm trước; hàng thủy sản đạt hơn 11,3 tỷ USD, tăng gần 13%; xuất khẩu hàng rau quả đạt gần 8,6 tỷ USD, tăng gần 20%.

Trong khi đó, số lượng xuất khẩu cà phê đạt 1,5 triệu tấn, tương đương gần 8,6 tỷ USD, tăng hơn 13% về lượng và tăng 52,5% về giá trị so với năm trước. Giá cà phê xuất khẩu bình quân cả năm 2025 đạt hơn 5630 USD/tấn, tăng gần 35%.
Khối lượng xuất khẩu cao su đạt 1,9 triệu tấn, tương đương 3,25 tỷ USD. Giá cao su xuất khẩu bình quân cả năm 2025 đạt gần 1.745 USD/tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ.
Xuất khẩu gạo đạt 7,9 triệu tấn, tương đương hơn 4 tỷ USD. Philippines là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 38,5%.
Khối lượng xuất khẩu hạt điều cũng đạt con số ấn tượng với gần 762 nghìn tấn, tương đương gần 5,2 tỷ USD, tăng 5% về khối lượng và tăng 19,6% về giá trị so với năm trước, đây là thành tích cao nhất của ngành hạt điều từ trước tới nay.
Bên cạnh đó, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn cũng ghi nhận có bước tăng trưởng khá, đạt gần 4 triệu tấn, tương đương gần 1,3 tỷ USD, tăng 51% về khối lượng và tăng 8,8% về giá trị.
Đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông nghiệp Việt Nam với thị phần chiếm hơn 45%; hai thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 22,8% và 13,2%. Đối với thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương chỉ chiếm lần lượt 2,7% và 1,4%.
Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc chiếm thị phần lớn nhất với hơn 22%, tiếp theo là Hoa Kỳ gần 21%, và Nhật Bản trên 7%...

Phát biểu trong buổi họp cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí tại phía Nam được tổ chức mới đây, ông Phùng Đức Tiến - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp và các rào cản thương mại ngày càng gia tăng, nông nghiệp Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế.
Kết quả này không chỉ phản ánh nỗ lực vượt khó của toàn ngành, mà còn cho thấy hiệu quả của quá trình tái cơ cấu nông nghiệp kéo dài hơn 40 năm qua. Từ tổ chức lại vùng sản xuất, xây dựng mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, đến đẩy mạnh chế biến và chế biến sâu gắn với thương mại, nông nghiệp Việt Nam đang từng bước chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, nâng cao giá trị gia tăng.
Thúc đẩy chế biến sâu
Ông Phùng Đức Tiến cho rằng, thành công của xuất khẩu nông sản năm qua có dấu ấn rõ nét từ sự chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, cùng sự vào cuộc đồng bộ của doanh nghiệp, hợp tác xã và hàng triệu nông dân, ngư dân trên cả nước. Đặc biệt, việc chủ động xoay trục thị trường, đa dạng hóa đối tác xuất khẩu đã giúp ngành nông nghiệp thích ứng tốt hơn trước những biến động toàn cầu.

Trên nền tảng đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 73-74 tỷ USD, tạo đà bứt phá cho giai đoạn 2026-2030, hướng tới mốc 100 tỷ USD.
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, đặc biệt là thúc đẩy chế biến sâu nông, lâm, thủy sản, coi đây là khâu then chốt để nâng cao giá trị gia tăng và đạt mục tiêu xuất khẩu 100 tỷ USD.
“Bộ sẽ tiếp tục rà soát, điều chỉnh các luật, chính sách để phù hợp với thực tiễn, cải cách hành chính và yêu cầu phát triển mới, trong đó khoa học - công nghệ được xác định là động lực trực tiếp cho sản xuất, thu hoạch, sơ chế và chế biến sâu, nhằm nâng cao giá trị nông sản”, ông Phùng Đức Tiến thông tin.

Trong khi đó, TS Trần Công Thắng - Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp và Môi trường (ISPAE) cho rằng, tính bền vững và yêu cầu “ăn xanh, ăn có trách nhiệm” không còn là xu hướng mà đã trở thành những luật chơi bắt buộc trên thương trường quốc tế. Từ năm 2026 trở đi, các thị trường lớn, đặc biệt là Liên minh châu Âu - đang áp dụng loạt quy định môi trường và bền vững mới, buộc nông sản Việt Nam phải thay đổi cách sản xuất, quản lý chuỗi cung ứng và tổ chức truy xuất nguồn gốc, nếu không muốn mất quyền tiếp cận thị trường giá trị cao.
Ông Nguyễn Như Tiệp
– nguyên Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, bộ Tài
Nguyên và Môi trường cho hay, mặc dù đã được cải thiện đáng kể những năm gần
đây nhưng thương hiệu nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế trên trường
quốc tế. Vì vậy phát triển thương hiệu mạnh là điều cần làm, lúc này vì chúng
ta có
Ông Tiệp nhận định, thương hiệu có vai trò quan trọng với cả người sản xuất và người tiêu dùng. Đối với người sản xuất, thương hiệu giúp tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng; thương hiệu như một lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng; giúp phân đoạn thị trường; tạo nên sự khác biệt trong quá trình phát triển của sản phẩm.
“Đối với người tiêu dùng, thương hiệu giúp khách hàng xác định nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm; giúp báo hiệu những đặc điểm và thuộc tính của sản phẩm tới khách hàng; giúp họ tiết kiệm chi phí tìm kiếm; làm giảm rủi ro khi quyết định mua và tiêu dùng”, ông Tiệp nhấn mạnh.