Tấp nập cảng cá Đại An mùa cao điểm, giữ nhịp kinh tế biển
Vào mùa khai thác sôi động, cảng cá Đại An (tỉnh Vĩnh Long) nhộn nhịp tàu thuyền, hải sản dồi dào. Dù đối mặt khó khăn vùng biển nông, nơi đây vẫn giữ vai trò cửa ngõ kinh tế biển quan trọng.
Nhộn nhịp mùa cá, mưu sinh từ biển
Nắng miền Tây như đổ lửa của những ngày cuối tháng 4, tại cảng cá Đại An (xã Đại An, tỉnh Vĩnh Long), không khí lao động vẫn sôi nổi từ tờ mờ sáng. Từng đoàn tàu nối đuôi nhau cập bến, khoang đầy ắp hải sản. Trên bờ, những đôi tay thoăn thoắt bốc dỡ, phân loại, cân hàng… tạo nên một nhịp sống hối hả, nhưng cũng rất đỗi quen thuộc của làng nghề biển.

Mùa này, sản vật chủ yếu là mực, cá đù, cá mối, cá xô… Những loại cá lớn hiếm khi xuất hiện do đặc thù vùng biển nông. Dẫu vậy, sản lượng vẫn ổn định, đủ để giữ nhịp sinh kế cho hàng trăm hộ dân.
Gắn bó với nghề biển hơn 20 năm, anh Nguyễn Văn Hòa (ngụ ấp Định An, xã Đại An) cho biết gia đình anh đang vận hành hai tàu, mỗi chuyến ra khơi kéo dài khoảng một tháng. “Chi phí mỗi chuyến dao động từ 15 đến 20 triệu đồng. Nếu thuận lợi, sau khi trừ hết chi phí, mỗi tháng tôi thu về khoảng 30–40 triệu đồng”, anh chia sẻ, giọng đầy lạc quan.

Cùng chung niềm vui, anh Lê Quốc Bảo, một ngư dân trẻ cùng xã Đại An, cho biết mực nang và mực ống đang là mặt hàng “được giá”, dao động từ 100.000–110.000 đồng/kg. “Cá đù, cá tạp thì khoảng 20.000–30.000 đồng/kg. Tuy không phải cao nhưng ổn định, bà con vẫn có lời”, anh nói.

Không chỉ là câu chuyện đánh bắt, công đoạn sau khi tàu cập bến cũng đòi hỏi sự khéo léo và kinh nghiệm. Từng sọt cá được phân loại kỹ lưỡng ngay tại bến. Cá lớn, cá nhỏ tách riêng; hàng đạt chuẩn được ưu tiên đưa đi tiêu thụ ngay để giữ độ tươi ngon. Mọi thao tác diễn ra nhanh, chính xác, như một dây chuyền vận hành trơn tru.
Giữa cái nắng gay gắt, mùi mặn của biển, mùi tanh của cá và cả những giọt mồ hôi rơi xuống… tất cả hòa quyện thành một bức tranh lao động sống động. Ở đó, không chỉ có sự vất vả, mà còn là niềm tin và sự bền bỉ của những con người gắn đời mình với biển.

Cửa ngõ giao thương, bệ đỡ kinh tế biển
Không chỉ nhộn nhịp ở khu vực bốc dỡ, phía ngoài cảng, từng đoàn xe tải cũng xếp hàng chờ vào cân hàng. Hải sản sau khi phân loại sẽ nhanh chóng được đưa đi các chợ đầu mối lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao.
Chị Phạm Thị Ngọc Lan, một thương lái lâu năm, cho biết thị trường chính của chị là TP Hồ Chí Minh và Đồng Nai. “Hàng ở đây phải thật tươi mới có thể bán được. Trung bình mỗi chuyến, tôi lời khoảng 3–5 triệu đồng sau khi trừ chi phí. Nhưng nghề này cũng nhiều rủi ro, vì chỉ cần hàng không đạt chất lượng là coi như lỗ”, chị nói.
Theo các thương lái, áp lực lớn nhất là yêu cầu khắt khe từ thị trường. Hải sản chủ yếu được phân phối lại cho nhà hàng, quán ăn nên tiêu chuẩn luôn cao. Điều đó buộc cả ngư dân lẫn người thu mua phải giữ uy tín bằng chất lượng.
Nằm bên nhánh sông Hậu đổ ra biển, cảng cá Đại An không chỉ là nơi giao thương mà còn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống hậu cần nghề cá của khu vực. Đây là điểm neo đậu, tránh trú bão, tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền từ nhiều tỉnh như An Giang, Đồng Tháp…

Ông Ngô Quốc Thạnh, Chủ tịch UBND xã Đại An, cho biết toàn xã hiện có 158 tàu cá, trong đó 133 phương tiện hoạt động thường xuyên. “Địa phương luôn siết chặt quản lý, đặc biệt với các phương tiện chưa đủ điều kiện chỉ được phép khai thác gần bờ. Đồng thời, chúng tôi tăng cường tuyên truyền để ngư dân tuân thủ quy định, nâng cao chất lượng và giá trị thủy sản,” ông nhấn mạnh.
Theo ông Thạnh, định hướng sắp tới là phát triển nghề cá theo hướng bền vững, gắn với bảo vệ nguồn lợi và nâng cao hiệu quả kinh tế. Điều này không chỉ giúp ổn định đời sống ngư dân mà còn góp phần giữ vững vai trò “cửa ngõ” của cảng cá Đại An trong chuỗi kinh tế biển.
Nhìn từ những chuyến tàu đầy ắp cá tôm, đến dòng xe nối dài chờ bốc hàng, có thể thấy rõ sức sống của một làng nghề đang chuyển mình. Dẫu còn nhiều thách thức từ tự nhiên và thị trường, nhưng bằng kinh nghiệm, sự cần cù và cả niềm tin, ngư dân Đại An vẫn bám biển, giữ nghề.

Ở nơi đầu sóng ấy, mỗi chuyến ra khơi không chỉ là hành trình mưu sinh, mà còn là cách họ góp phần viết tiếp câu chuyện phát triển kinh tế biển của miền Tây – lặng lẽ nhưng đầy nội lực.


