Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Thúc đẩy động lực nội sinh để bứt phá

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Thúc đẩy động lực nội sinh để bứt phá

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động, yêu cầu tăng trưởng cao và bền vững đang đặt ra cấp thiết với Việt Nam. Trao đổi với phóng viên Báo Đại đoàn kết, TS Huỳnh Thanh Điền (Đại học Nguyễn Tất Thành) cho rằng, mục tiêu tăng trưởng 10% không chỉ là khát vọng mà là lựa chọn mang tính bắt buộc, trong đó yếu tố quyết định chính là năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Hướng đến mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Việt Nam cần đẩy mạnh mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh: Quang Vinh.
Hướng đến mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Việt Nam cần đẩy mạnh mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh: Quang Vinh.

PV: Thưa ông, mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10% và tiến tới tăng trưởng hai con số bền vững đang được đặt ra rất rõ ràng. Ông nhìn nhận như thế nào về yêu cầu này?

TS Huỳnh Thanh Điền: Tôi cho rằng, đây không còn là một lựa chọn mang tính tham khảo mà là yêu cầu bắt buộc nếu Việt Nam muốn đạt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Mức tăng trưởng 10% hoàn toàn khác với giai đoạn trước, khi chúng ta duy trì 5 - 6%, bởi nó đòi hỏi thay đổi không chỉ về lượng mà cả về chất. Quan trọng hơn, đây là thời điểm không thể trì hoãn. Nếu không tận dụng giai đoạn hiện nay, khi chúng ta vẫn còn dư địa phát triển và lợi thế dân số, thì cơ hội bứt phá trong tương lai sẽ thu hẹp đáng kể.

Vì sao Việt Nam cần tăng trưởng cao ngay lúc này, thay vì tiếp tục duy trì mức tăng trưởng trung bình như trước, thưa ông?

Trước hết, cần lý giải vì sao mục tiêu tăng trưởng cao lại trở nên cần thiết. Việt Nam hiện nay vẫn là quốc gia có thu nhập trung bình thấp, nghĩa là chúng ta còn cơ hội để bứt phá. Trong khi đó, thực tế trên thế giới cho thấy rất nhiều quốc gia đang phát triển rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”. Đây là tình trạng xảy ra khi các nước phát triển nhanh ở giai đoạn đầu nhờ thu hút đầu tư nước ngoài, dựa vào lao động trẻ và quỹ đất còn rộng. Khi dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đổ vào nhiều, tăng trưởng ban đầu thường cao. Tuy nhiên, phần lớn nhà đầu tư không mang công nghệ hiện đại nhất mà chỉ chuyển những công nghệ trung bình hoặc thấp sang. Đến một thời điểm nhất định, năng suất lao động bắt đầu dậm chân tại chỗ. Dân số thì già đi, còn sự liên kết giữa doanh nghiệp (DN) trong nước với DN FDI lại yếu, khiến khoa học công nghệ nội địa không phát triển. Từ đó, nền kinh tế chạm ngưỡng và không thể tiến lên nhóm thu nhập cao.

Muốn vượt qua giới hạn này, các quốc gia buộc phải nâng năng suất và tạo ra giá trị mới. Việt Nam trong thời gian qua phần nào cũng đi theo quỹ đạo tăng trưởng dựa vào FDI giống nhiều quốc gia khác, nhưng chúng ta vẫn còn dư địa để thay đổi. Nguồn đất đai phục vụ phát triển công nghiệp vẫn còn, không gian kinh tế vẫn mở và lực lượng lao động vẫn tương đối trẻ. Đây là điều mà nhiều nước khác không còn nữa. Chính vì vậy, nếu Việt Nam sớm chuyển hướng thu hút công nghệ cao ngay từ bây giờ, chúng ta sẽ có cơ hội tạo ra bước nhảy về năng suất. Còn nếu tiếp tục dựa vào những công nghệ cũ, sẽ vẫn tăng trưởng nhưng chỉ trong ngắn hạn trước khi bị chững lại và không mang lại giá trị bền vững.

Có thể hình dung nền kinh tế như một khu vườn rộng 10ha. Nếu ngay từ đầu chúng ta trồng toàn ổi và xoài - những loại cây giá trị thấp thì dù khu vườn có được phủ kín, giá trị thu được cũng không thể tăng thêm. Khi muốn chuyển sang loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn, chúng ta phải nhổ bỏ toàn bộ, tốn kém thời gian và nguồn lực. Nhưng nếu khu vườn mới chỉ được trồng một nửa, chúng ta hoàn toàn có thể sắp xếp lại và trồng những loại cây tốt hơn mà không gặp nhiều trở ngại. Kinh tế Việt Nam lúc này cũng vậy: Chúng ta chưa sử dụng hết “diện tích khu vườn”, nên vẫn còn thời gian và cơ hội để điều chỉnh cơ cấu theo hướng hiệu quả hơn.

Ông Huỳnh Thanh Điền.
Ông Huỳnh Thanh Điền.

Thực tế trong khu vực ASEAN cho thấy bài học rõ ràng. Thái Lan và Philippines đã đạt mức thu nhập trung bình từ cách đây hơn một thập kỷ, nhưng suốt 10 năm qua họ gần như không chuyển mình thành công. Năng suất không tăng, công nghệ không cải thiện, GDP không bứt phá và họ rơi vào trạng thái mắc kẹt kéo dài. Cách đây 10 năm, quy mô kinh tế Thái Lan vượt Việt Nam rất xa, nhưng hiện nay Việt Nam đã thu hẹp đáng kể khoảng cách đó – một minh chứng cho thấy chúng ta đang có tốc độ tiến lên nhanh hơn, miễn là tiếp tục đi đúng hướng.

Toàn bộ những điều này cho thấy vì sao tăng trưởng thực chất không chỉ là một lựa chọn mà là con đường tất yếu. Nếu hành động sớm, chúng ta có thể tận dụng được lợi thế hiện có để vươn lên. Còn nếu chậm trễ, Việt Nam có nguy cơ lặp lại đúng con đường mà nhiều quốc gia trong khu vực đã mắc phải: chạm ngưỡng và bị bỏ lại phía sau.

Theo ông, đâu là những động lực có thể giúp Việt Nam đạt được mức tăng trưởng 10%?

Hiện nay, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đang được nâng lên khá rõ. Chúng ta theo đuổi đường lối đối ngoại chủ động, hội nhập cả song phương lẫn đa phương, từ đó xây dựng được hình ảnh một quốc gia thân thiện, đáng tin cậy. Đây là yếu tố rất quan trọng, bởi nhà đầu tư quốc tế luôn ưu tiên những thị trường ổn định, cởi mở và có thiện chí hợp tác.

Có người từng hỏi tôi vì sao chúng ta không đặt mục tiêu đơn giản là “sống tốt”. Nhưng thực tế là một quốc gia nếu còn nghèo thì rất khó đảm bảo chất lượng sống cao cho người dân. Muốn nâng cao đời sống, trước hết nền kinh tế phải tạo ra đủ của cải. Tất nhiên, trong quá trình hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao, chúng ta vẫn phải đặt con người ở trung tâm, tức là tăng trưởng phải đi đôi với nâng cao phúc lợi xã hội.

Khi đã đặt ra mục tiêu lớn như tăng trưởng hai con số, chúng ta mới có động lực để hành động mạnh mẽ và quyết liệt hơn. Và thời điểm hiện nay là đặc biệt quan trọng. Trong khoảng 5 năm tới, Việt Nam sẽ dần bước qua giai đoạn dân số vàng. Khi lực lượng lao động không còn trẻ như hiện nay, việc tạo ra bứt phá sẽ khó hơn rất nhiều. Vì vậy, giai đoạn 2025 - 2030 có thể coi là “cửa sổ cơ hội” mang tính quyết định.

Thực tế, mô hình tăng trưởng của Việt Nam thời gian qua chủ yếu dựa vào lao động trẻ, lao động phổ thông. Đây là lợi thế nhưng cũng là giới hạn. Nếu không chuyển đổi kịp thời sang mô hình dựa vào năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn, thì tăng trưởng sẽ khó duy trì ở mức cao trong dài hạn.

Nhìn ra thế giới, tôi thấy mỗi quốc gia đều có một câu chuyện bứt phá riêng. Nhật Bản, Hàn Quốc hay gần đây là Trung Quốc đều thành công theo những cách khác nhau, không có mô hình chung. Tuy nhiên, điểm giống nhau là họ đều tận dụng tốt thời điểm và xây dựng được nền tảng nội lực vững chắc.

Chẳng hạn, Nhật Bản bắt đầu bứt phá từ giữa thế kỷ 20 và trong giai đoạn 1960 - 1973 đã duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình hơn 10% mỗi năm, nhanh chóng trở thành một trong những trung tâm kinh tế lớn của thế giới. Hàn Quốc cũng vậy, họ kiên trì chiến lược công nghiệp hóa, duy trì tăng trưởng cao liên tục suốt nhiều thập kỷ.

Những kinh nghiệm này cho thấy, muốn tạo ra bước ngoặt, Việt Nam cần tận dụng đúng thời điểm và quan trọng hơn là phải xây dựng được năng lực nội sinh.

Ông nhiều lần nhấn mạnh vai trò của năng lực nội sinh. Vậy yếu tố này quan trọng như thế nào đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số?

Các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc đều xây dựng được nền tảng nội lực rất mạnh, đặc biệt là về công nghệ, nên họ mới có thể bứt phá. Từ đó, Việt Nam cần ghi nhớ hai điểm quan trọng: thứ nhất là phải duy trì tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong ít nhất một đến hai thập kỷ; thứ hai là phải củng cố năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Muốn làm được điều đó, Việt Nam không thể chỉ dựa vào FDI mà phải tạo ra sự cộng hưởng với doanh nghiệp trong nước. Khi có sự liên kết này, doanh nghiệp nội địa mới học hỏi, đổi mới và từng bước làm chủ công nghệ. Khi đã làm chủ được công nghệ, chúng ta sẽ không còn phụ thuộc, và các nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ gắn bó lâu dài hơn.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tạo ra sự cộng hưởng đó và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển. Theo tôi, trước hết, phải kết nối được ba khu vực kinh tế hiện đang vận hành tương đối tách biệt, gồm khu vực nhà nước, khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước. Thời gian qua, khu vực FDI tập trung sản xuất và xuất khẩu với công nghệ hiện đại, trong khi doanh nghiệp trong nước chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực thương mại, dịch vụ, quy mô sản xuất còn nhỏ. Điều này khiến nền kinh tế thiếu sự liên kết và không hình thành được nội lực đủ mạnh.

Trong giai đoạn tới, cần xác định rõ kinh tế tư nhân là động lực trung tâm. Những gì khu vực tư nhân làm được thì cần tạo điều kiện tối đa, xây dựng hệ sinh thái để họ phát triển. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, tập trung vào những lĩnh vực mà tư nhân chưa làm được hoặc làm chưa hiệu quả. Còn với FDI, phải có sự lựa chọn và định hướng rõ ràng, đặc biệt là yêu cầu về khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Thực tế cho thấy, nếu có chính sách phù hợp, sự liên kết này hoàn toàn có thể hình thành. Chẳng hạn, TPHCM từng triển khai các chương trình hỗ trợ DN nội địa tham gia chuỗi cung ứng cho DN FDI, thông qua việc hỗ trợ chi phí vốn và đào tạo. Nhờ đó, đã xuất hiện những DN trong nước đủ năng lực tham gia sản xuất. Đây là mô hình có thể nhân rộng.

Về lâu dài, Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay vì dựa vào mở rộng quy mô hay lao động giá rẻ. Cốt lõi vẫn là nâng cao năng suất và giá trị gia tăng.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng, trên thế giới không có quốc gia nào phát triển mà không làm chủ được công nghệ lõi. Nhiều nước rơi vào bẫy thu nhập trung bình chính vì họ chỉ thu hút đầu tư nước ngoài nhưng không phát triển được năng lực công nghệ của riêng mình.

Trân trọng cảm ơn ông!

Thúc đẩy động lực nội sinh để bứt phá

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân):

Đẩy mạnh đầu tư vào khoa học công nghệ để thúc đẩy tăng trưởng

Việt Nam nếu muốn “đi xa và đi nhanh” cần phải dựa mạnh mẽ vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo ông, việc thúc đẩy các động lực này không chỉ dừng ở chủ trương mà cần được thực hiện quyết liệt hơn thông qua gia tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), cũng như ưu tiên các ngành công nghệ mới có sức lan tỏa lớn. Trong đó, lĩnh vực công nghệ năng lượng được xem là một trong những điểm nhấn quan trọng trong giai đoạn tới.

“Lúc này là thời điểm tốt, bởi giá năng lượng đang tăng. Nếu chúng ta có công nghệ năng lượng mới mà không áp dụng thì sẽ bỏ lỡ cơ hội. Việc phát triển công nghệ năng lượng vừa giúp giữ ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tạo điều kiện để thị trường khoa học công nghệ phát triển mạnh” -  PGS.TS Nguyễn Thường Lạng nhận định đồng thời cho rằng, việc đẩy mạnh đầu tư vào khoa học công nghệ không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời nâng cao khả năng thu hút nguồn lực từ bên ngoài. Trọng tâm phát triển trong giai đoạn tới cần hướng tới những mô hình phát triển “thông minh”, phù hợp với xu thế toàn cầu.     

T.X

Thuý Hằng