Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Thúc đẩy ứng dụng chỉnh sửa gen, tạo động lực cho nông nghiệp bền vững

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Thúc đẩy ứng dụng chỉnh sửa gen, tạo động lực cho nông nghiệp bền vững

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Công nghệ chỉnh sửa gen, đặc biệt là các nền tảng như CRISPR/Cas đang mở ra nhiều cơ hội phát triển giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản có đặc tính ưu việt, thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, để đưa công nghệ này vào sản xuất, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý dựa trên cơ sở khoa học, tương xứng với mức độ rủi ro, tạo thuận lợi cho nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm.

Tại Hội thảo “Ứng dụng chỉnh sửa gen trong cây trồng, thủy sản và đối thoại về khung pháp lý tại Việt Nam” trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế Frontiers in Genome Engineering 2026 diễn ra từ ngày 3-6/11 tại tỉnh Gia Lai do Vụ Khoa học Công nghệ ( Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức, TS. Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ cho biết, ngày 31/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1466/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường.

Trong đó, các công nghệ mới như chỉnh sửa gen được xác định là công cụ quan trọng để phát triển giống cây trồng, vật nuôi và nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất.

Theo TS. Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ, công nghệ sinh học hiện đại với các nền tảng như CRISPR/Cas mở ra khả năng tạo ra những biến đổi di truyền có chủ đích, phục vụ nghiên cứu tính trạng và phát triển giống theo mục tiêu cụ thể. Ảnh: NN
Theo TS. Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ, công nghệ sinh học hiện đại với các nền tảng như CRISPR/Cas mở ra khả năng tạo ra những biến đổi di truyền có chủ đích, phục vụ nghiên cứu tính trạng và phát triển giống theo mục tiêu cụ thể. Ảnh: NN

Theo TS. Nguyễn Văn Long, công nghệ sinh học hiện đại với các nền tảng như CRISPR/Cas mở ra khả năng tạo ra những biến đổi di truyền có chủ đích, phục vụ nghiên cứu tính trạng và phát triển giống theo mục tiêu cụ thể. Công nghệ này có tiềm năng ứng dụng trên nhiều cây trồng chủ lực như lúa, cà phê, chuối, cũng như trong chăn nuôi và thủy sản.

TS. Michael Leader, đại diện Hiệp hội CropLife châu Á nhận định công nghệ chỉnh sửa gen cho phép đưa những đặc tính mới vào cây trồng nhanh hơn nhiều so với phương pháp lai tạo truyền thống. Công nghệ này có thể góp phần nâng cao khả năng chống chịu của cây trồng trước biến đổi khí hậu, phát triển giống kháng bệnh và giải quyết những vấn đề như nhiễm mặn ở cây lúa.

Cùng đánh giá cao tiềm năng của công nghệ sinh học, ông Robert Henry, Đại học Queensland (Brisbane, Australia), cho rằng công nghệ này có thể nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng và giá trị dinh dưỡng của nông sản. Việt Nam có nhiều hướng ứng dụng, trong đó cần ưu tiên những cây trồng chủ lực như lúa. Tuy nhiên, lợi ích của công nghệ không chỉ giới hạn ở các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao mà còn có thể mở rộng sang nhiều nhóm cây trồng khác.

Theo ông Robert Henry, công nghệ sinh học sẽ đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực và duy trì sản xuất bền vững, nhất là khi nông nghiệp đang chịu tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu và nhu cầu thực phẩm của người tiêu dùng liên tục thay đổi.

Cùng với tiềm năng ứng dụng, quản lý rủi ro đối với sản phẩm chỉnh sửa gen đang là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm. Theo các đại biểu, hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen trên thế giới đang phát triển nhanh chóng và ngày càng đa dạng. Các hướng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở cây trồng mà còn mở rộng sang chăn nuôi, thủy sản và vi sinh vật.

Nhiều giải pháp đang được phát triển nhằm đáp ứng đồng thời nhu cầu của sản xuất, thị trường và người tiêu dùng từ việc tăng khả năng chống chịu, giảm tổn thất sau thu hoạch đến nâng cao giá trị dinh dưỡng và chất lượng sản phẩm.

Các đại biểu thảo luận tại hội nghị. Ảnh: NN
Các đại biểu thảo luận tại hội nghị. Ảnh: NN

Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang tích cực xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý rủi ro đối với các sản phẩm chỉnh sửa gen. Xu hướng chung là đánh giá dựa trên đặc tính của sản phẩm cuối cùng thay vì chỉ dựa vào phương pháp tạo ra nó.

Theo đó, những sản phẩm chỉnh sửa gen không chứa DNA ngoại lai và có đặc điểm tương tự như sản phẩm tạo ra bằng phương pháp lai tạo thông thường sẽ không chịu sự quản lý nghiêm ngặt như sinh vật biến đổi gen (GMO). Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính an toàn, vừa tạo điều kiện cho các hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm được triển khai nhanh chóng, minh bạch và dễ dự đoán hơn.

Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật về đa dạng sinh học đã bước đầu thiết lập cơ chế quản lý đối với sinh vật chỉnh sửa gen. Trong đó, tổ chức, cá nhân có thể tự xác định sản phẩm chỉnh sửa gen không chứa DNA ngoại lai và thực hiện báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước.

Đáng chú ý, Luật số 146/2025/QH15 được Quốc hội thông qua năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đã phân biệt hai khái niệm sinh vật biến đổi gen và sinh vật chỉnh sửa gen, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý phù hợp với đặc tính của từng nhóm. Tiếp đó, Nghị định số 43/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, tiếp tục cụ thể hóa các nội dung liên quan.

Theo TS Nguyễn Văn Long, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tích cực tham mưu hoàn thiện khung pháp lý về quản lý sinh vật chỉnh sửa gen. Đồng thời ông cho biết, những nội dung được thảo luận hội thảo được kỳ vọng sẽ góp phần xác định những vấn đề cần ưu tiên trong hoàn thiện chính sách, thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa, mở rộng cơ hội ứng dụng công nghệ an toàn, có trách nhiệm.

Khanh Lê