Báo Đại Đoàn Kết Giáo dục

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu ở trường đại học

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu ở trường đại học

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Thương mại hóa kết quả nghiên cứu ở trường đại học
Giảng viên và sinh viên Trường Đại học Quốc tế - Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu khoa học. Ảnh: HCMIU

Khi nghiên cứu khoa học không chỉ được đánh giá bằng số lượng công bố mà còn bằng khả năng tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế - xã hội, thương mại hóa kết quả nghiên cứu ngày càng trở thành yêu cầu quan trọng.

Từ ý tưởng đến sản phẩm

Một công trình nghiên cứu có thể có giá trị lớn về mặt học thuật, nhưng nếu dừng lại ở bài báo, bằng sáng chế hoặc nguyên mẫu thì giá trị kinh tế - xã hội chưa được phát huy đầy đủ. Điểm khó nằm ở chặng đường tiếp theo: hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm trong thực tế, tìm nguồn lực, chuyển giao và phát triển thành sản phẩm có khả năng cạnh tranh.

Tại Diễn đàn “Tương lai khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia 2026”, ông Nguyễn Mai Dương - Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, nhấn mạnh yêu cầu chuyển “từ ý tưởng sang sản phẩm, từ nghiên cứu sang ứng dụng và thương mại hóa; từ mô hình đơn lẻ sang kết quả có thể nhân rộng”. Theo ông, đầu tư cho đổi mới sáng tạo phải được đo bằng hiệu quả và đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội.

Từ yêu cầu đó, ông Đào Phương Nam - Giám đốc sản phẩm CMC OpenAI, đề xuất cách tiếp cận “3 nhà”, trong đó mối quan hệ giữa Nhà nước, nhà trường - viện nghiên cứu và doanh nghiệp được đặt trong một chuỗi giá trị thống nhất.

Theo ông Nam, Nhà nước đặt bài toán, Nhà trường và Viện tạo tri thức, nhân lực, Doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường. Trong đó, Nhà nước có vai trò giao nhiệm vụ gắn với các bài toán lớn, mở dữ liệu ưu tiên, tạo điều kiện thử nghiệm, hỗ trợ nghiên cứu và đặt hàng sản phẩm. Nhà trường, viện nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu lõi, sáng chế và đào tạo nhân lực. Doanh nghiệp tham gia đồng tài trợ, thử nghiệm, tiếp nhận chuyển giao và mở rộng quy mô sản phẩm.

Điểm quan trọng là ba lực lượng này không hoạt động tách rời. Chẳng hạn, một sản phẩm, giải pháp có thể hình thành theo chuỗi đặt hàng - nghiên cứu - thử nghiệm - chuyển giao - thương mại hóa, trong đó doanh nghiệp tham gia từ quá trình nghiên cứu thay vì chỉ xuất hiện ở bước cuối.

Thương mại hóa công nghệ không đơn thuần là việc doanh nghiệp “mua” kết quả nghiên cứu, mà là quá trình cùng đầu tư, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ. Vì vậy, trường đại học (ĐH) không chỉ cần phòng thí nghiệm mà còn cần đội ngũ làm chủ công nghệ, quản trị tài sản trí tuệ, kết nối doanh nghiệp và phát triển sản phẩm.

Từ “3 nhà” đến doanh nghiệp spin-off

Một hướng đi khác để kết nối nghiên cứu với thị trường là hình thành các doanh nghiệp spin-off ngay từ hệ sinh thái ĐH.

Tại Tập đoàn Phenikaa, ông Lê Quang Hiệp - Giám đốc Kinh doanh (CCO), CTCP Phenikaa-X, cho biết hệ sinh thái đổi mới sáng tạo được xây dựng dựa trên liên kết “3 Nhà”: Nhà Sản xuất Kinh doanh, Nhà Giáo dục và Nhà Khoa học. Phenikaa-X được phát triển như một FutureLAB, tận dụng thế mạnh của Tập đoàn Phenikaa và ĐH Phenikaa để ươm tạo công nghệ đột phá, từng bước hình thành các công ty spin-off độc lập.

Mô hình này gợi mở hướng đi cho các trường ĐH: công nghệ được ươm tạo trong hệ sinh thái có sự tham gia của nhà trường và doanh nghiệp, sau đó phát triển thành sản phẩm hoặc doanh nghiệp mới khi đủ độ trưởng thành.

Thực tế tại Phenikaa-X cho thấy hệ sinh thái này đã phát triển các sản phẩm, giải pháp về phương tiện tự hành, robot, drone, trường học thông minh, bệnh viện thông minh..., dựa trên những công nghệ như AI, bản đồ số HD, mô phỏng và Digital Twin.

Riêng với phương tiện tự hành, các giải pháp đã được triển khai tại Ecopark Hưng Yên, SonKimLand Thủ Đức và Khu đô thị thông minh Becamex Bình Dương. Tại Becamex, phương tiện đã di chuyển tổng cộng 26.900km, trong đó quãng đường vận hành tự hành đạt 26.328km, tương đương 97,9%.

Đây là minh chứng cho một bước quan trọng của thương mại hóa: công nghệ phải được đưa ra môi trường thực tế để kiểm chứng, hoàn thiện và chứng minh khả năng tạo ra giá trị trước khi mở rộng thị trường.

Từ đó, cách đánh giá thành quả nghiên cứu cũng cần được mở rộng. Bên cạnh số lượng bài báo, bằng sáng chế hay giải thưởng, có thể quan tâm đến số công nghệ được chuyển giao, số doanh nghiệp được hình thành, số sản phẩm được thương mại hóa, doanh thu từ tài sản trí tuệ và tác động đối với xã hội.

Khi Nhà nước, nhà trường - viện nghiên cứu và doanh nghiệp cùng tham gia từ lúc đặt bài toán đến khi sản phẩm ra thị trường, thương mại hóa không còn là bước cuối của một đề tài. Đó trở thành một phần của chính quá trình nghiên cứu, giúp tri thức được bảo hộ, công nghệ được thử nghiệm, sản phẩm được hoàn thiện và cuối cùng tạo ra giá trị thực tế cho nền kinh tế.

Thu Hương