Tiến ra biển với tư duy , tầm nhìn mới
Sau hơn 8 năm thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, diện mạo các vùng ven biển đang có những chuyển biến mạnh mẽ. Tại Ninh Bình, Hưng Yên, hạ tầng giao thông được đầu tư, các khu kinh tế, khu công nghiệp và không gian đô thị, dịch vụ từng bước mở rộng, tạo thêm dư địa phát triển. Những chuyển động đó cũng đặt ra yêu cầu chuyển từ khai thác lợi thế biển sang kiến tạo không gian phát triển hiện đại, xanh, bền vững, với tư duy và tầm nhìn mới.

Những vùng biển thức giấc, vươn mình
Sau hợp nhất, tỉnh Ninh Bình có dải ven biển dài gần 90km, nhiều cửa sông lớn, hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc sắc, vùng ven biển có 16 xã với dân số khoảng 600 nghìn người, quỹ đất ven biển rộng, tạo thêm dư địa phát triển. Khác biệt ở vùng biển này so với khoảng 10 năm trước là có thêm nhiều công trình hạ tầng đã và đang được xây dựng, trong đó có công trình cải tạo luồng tàu qua cửa Lạch Giang (cửa sông Ninh Cơ); cụm công trình kênh nối sông Đáy - sông Ninh Cơ; tuyến đường bộ ven biển kết nối với các tỉnh ven biển trong khu vực. Nếu như trước đây, việc kết nối các trung tâm đô thị với vùng kinh tế biển phụ thuộc vào một số tuyến đường nhỏ, thì nay người dân, doanh nghiệp có thêm những tuyến đường hiện đại như đường trục nối vùng kinh tế biển với cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, dài 46km; tuyến đường bộ mới Nam Định - Lạc Quần - đường bộ ven biển, dài gần 25km. Hiện dự án đường bộ cao tốc nối Ninh Bình với Hưng Yên - Hải Phòng (CT.08) đang được triển khai thi công.
Tại Hưng Yên, địa phương có 8 xã giáp biển, dài 54km, việc hạ tầng giao thông phát triển mạnh trong những năm qua cũng khiến diện mạo khu vực ven biển thay đổi rõ nét. Đóng vai trò quan trọng là tuyến đường bộ ven biển đi qua địa bàn tỉnh, dài gần 36 km, kết nối Hải Phòng với Ninh Bình; tuyến đường kết nối từ cầu sông Hóa đến đường bộ ven biển; hệ thống 5 tuyến đường trục kết nối các khu chức năng vùng ven biển cùng nhiều tuyến giao thông động lực như ĐT.464, ĐT.469. Nếu như trước đây, việc kết nối từ khu vực trung tâm đến vùng ven biển chủ yếu dựa vào Quốc lộ 39 và một số tuyến tỉnh lộ, thì nay mạng lưới giao thông hiện đại đã rút ngắn thời gian di chuyển, đồng thời tăng khả năng liên kết với Hải Phòng, Ninh Bình và các tỉnh duyên hải Bắc Bộ. Cùng với hệ thống giao thông đối ngoại, nhiều tuyến đường nội vùng cũng được đầu tư, tạo tiền đề hình thành không gian phát triển mới. Đặc biệt, cao tốc CT.08 đi qua khu vực ven biển của tỉnh đã được khởi công tháng 5/2025.
Công nghiệp hiện diện
Trước đây, hoạt động kinh tế ở vùng ven biển Ninh Bình, Hưng Yên chủ yếu gắn với nông nghiệp, sản xuất muối; khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản và du lịch mùa vụ, thì nay sản xuất công nghiệp đang dần trở thành hoạt động kinh tế chủ đạo, với sự hiện diện của nhiều khu công nghiệp, dự án kinh tế lớn trong Khu kinh tế Thái Bình (Hưng Yên), Khu kinh tế Ninh Cơ (Ninh Bình).
Theo Ban Quản lý Khu kinh tế và khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên, sau gần 10 năm được thành lập, đến nay Khu kinh tế Thái Bình (rộng hơn 30.000ha) đã được quy hoạch với hệ thống các phân khu chức năng, gồm các khu công nghiệp, khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ, cảng biển, đô thị, du lịch - dịch vụ, trung tâm điện lực, nông nghiệp, thủy sản và hạ tầng kỹ thuật. Đến nay, tại khu kinh tế đã có 5 khu công nghiệp được thành lập, đi vào hoạt động gồm Tiền Hải, Liên Hà Thái, Hải Long, Hưng Phú, VSIP Thái Bình, tạo ra hệ sinh thái công nghiệp hiện đại, thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Khu kinh tế Thái Bình đã thu hút 89 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 130.000 tỷ đồng; lũy kế đến nay có 248 dự án, tổng vốn đăng ký khoảng 200.000 tỷ đồng, trong đó 75 dự án FDI với tổng vốn khoảng 4,6 tỷ USD. Trong đó, Khu công nghiệp Liên Hà Thái đang là hạt nhân thu hút đầu tư với hơn 60 nhà đầu tư trong và ngoài nước, tổng vốn đăng ký trên 1,6 tỷ USD, tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp khoảng 52%. Hệ thống năng lượng được bổ sung với Nhà máy nhiệt điện LNG Thái Bình công suất 1.500 MW, vốn đầu tư khoảng 2,69 tỷ USD, bên cạnh Trung tâm điện lực Thái Bình công suất 1.800 MW đã vận hành.

Tại Ninh Bình, Khu kinh tế Ninh Cơ với diện tích khoảng 14.000ha, sau gần 2 năm được thành lập cũng đang trở thành một không gian phát triển tổng hợp về công nghiệp, cảng biển, logistics, đô thị, khoa học - công nghệ, du lịch và sinh thái. Điểm nhấn trong Khu kinh tế Ninh Cơ là Khu công nghiệp Dệt may Rạng Đông, rộng 550ha.
Theo Ban Quản lý Khu kinh tế và khu công nghiệp tỉnh Ninh Bình, đến nay khu công nghiệp này đã thu hút 7 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 476,7 triệu USD. Trong đó, dự án Nhà máy dệt, vốn đầu tư 203 triệu USD do Công ty TNHH Top Textiles (Nhật Bản) làm chủ đầu tư đã khánh thành, đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, trong phạm vi khu kinh tế, tỉnh Ninh Bình và các nhà đầu tư đã và đang triển khai nhiều dự án lớn như Nhà máy thép xanh số 1 công suất khoảng 7,5 triệu tấn/năm; Nhà máy thép xanh Xuân Thiện công suất khoảng 2,5 triệu tấn/năm; Nhà máy đóng tàu quy mô hơn 1.100ha...
Không gian phát triển được mở rộng, hạ tầng từng bước hoàn thiện, những dự án công nghiệp và dịch vụ quy mô lớn bắt đầu xuất hiện đang tạo diện mạo mới cho vùng ven biển Ninh Bình, Hưng Yên. Tuy nhiên, để những lợi thế đó chuyển thành động lực tăng trưởng lâu dài còn nhiều bài toán khó cần lời giải từ các địa phương.
Gỡ điểm nghẽn để kinh tế biển thực sự trở thành động lực
Từ thực tiễn tại các tỉnh Ninh Bình và Hưng Yên có thể thấy, để hình thành một không gian kinh tế biển hiện đại cần đầu tư đồng bộ từ giao thông, cảng biển, logistics, năng lượng đến đô thị, hạ tầng kỹ thuật và các công trình phòng, chống thiên tai. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian đầu tư dài, trong khi ngân sách địa phương có giới hạn.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình Trần Anh Dũng, để giải bài toán về nguồn lực đầu tư, tỉnh sẽ ưu tiên vốn đầu tư công cho những công trình hạ tầng thiết yếu, đồng thời đẩy mạnh thu hút đầu tư ngoài ngân sách và hợp tác công - tư (PPP). Tỉnh cũng hướng tới thu hút các tập đoàn lớn, nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước vào những dự án động lực, có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường và sức lan tỏa cao. Cùng với nguồn lực tài chính, Ninh Bình xác định đào tạo nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ nhà ở cho người lao động và thúc đẩy chuyển đổi số trong các ngành kinh tế biển.
Tỉnh Hưng Yên cũng đang tìm kiếm cách tiếp cận mới để nâng sức cạnh tranh cho không gian kinh tế biển. Trong đó, tỉnh đang trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án thành lập Khu kinh tế tự do Hưng Yên trên cơ sở Khu kinh tế Thái Bình. Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Quang Hòa, đây là bước đi có ý nghĩa chiến lược nhằm tái cấu trúc, xác lập mô hình và tạo đột phá tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Khu kinh tế tự do cũng được định hướng là nơi thử nghiệm mô hình, chính sách phát triển, thu hút đầu tư chiến lược và mở rộng không gian kinh tế. Tầm nhìn này không chỉ dừng ở phát triển công nghiệp mà hướng tới xây dựng trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp lớn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Một thách thức khác là bảo đảm phát triển kinh tế không làm suy giảm các nguồn lực tự nhiên của vùng biển. Ninh Bình có vùng cửa sông, bãi bồi, đất ngập nước và rừng ngập mặn có giá trị lớn. Đây vừa là tài nguyên cho phát triển, vừa là hệ thống tự nhiên giúp bảo vệ bờ biển và duy trì sinh kế cộng đồng. Khi giao thông, đô thị, công nghiệp, du lịch và nuôi trồng thủy sản phát triển, áp lực lên đất, nước và hệ sinh thái cũng tăng. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình Trần Anh Dũng cho biết, tỉnh giải bài toán này với quan điểm xuyên suốt là phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh, bền vững, đa ngành và có giá trị gia tăng cao; tuyệt đối không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Phát triển kinh tế biển phải gắn với bảo vệ hệ sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng-an ninh và nâng cao đời sống người dân vùng ven biển.
Tỉnh xác định công nghiệp ven biển phải là công nghiệp xanh, công nghệ cao và thân thiện môi trường. Đến năm 2030, tỉnh định hướng phát triển thêm 9 khu công nghiệp ven biển mới với tổng diện tích khoảng 2.135ha. Trong đó, Khu công nghiệp VSIP Nam Định sẽ phát triển theo mô hình xanh - thông minh; Khu công nghiệp Dệt may Rạng Đông tiếp tục được mở rộng thành trung tâm dệt may thời trang lớn của cả nước. Việc lựa chọn dự án đầu tư sẽ được thực hiện rất chặt chẽ, ưu tiên công nghệ hiện đại, tiết kiệm năng lượng, phát thải thấp. Tỉnh cũng định hướng chuyển mạnh sản xuất nông nghiệp, thủy sản từ truyền thống sang công nghệ cao, sinh thái và tuần hoàn. Các khu vực rừng ngập mặn, bãi triều, đặc biệt là Vườn quốc gia Xuân Thủy tiếp tục được bảo vệ, phát huy giá trị.
Một thách thức khác là nguồn nhân lực. Khi không gian biển chuyển từ sản xuất nông nghiệp, thủy sản truyền thống sang công nghiệp công nghệ cao, logistics, dịch vụ hàng hải, năng lượng và du lịch chất lượng cao, yêu cầu về lao động cũng thay đổi. Nếu không chuẩn bị nguồn nhân lực phù hợp, địa phương có thể có hạ tầng nhưng phải phụ thuộc vào lao động từ nơi khác. Giải bài toán này, tỉnh Hưng Yên đã xây dựng Đề án phát triển lực lượng lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong khi đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình Trần Anh Dũng cho biết, tỉnh chú trọng giải pháp đào tạo nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ nhà ở cho người lao động và thúc đẩy chuyển đổi số trong các ngành kinh tế biển.
Theo ông Vũ Kinh Cứ - Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế và khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên, tỉnh đang trình cấp có thẩm quyền Đề án thành lập Khu kinh tế tự do Hưng Yên trên cơ sở Khu kinh tế Thái Bình, đồng thời nghiên cứu mở rộng ranh giới về phía tây khoảng 13.000ha và lấn biển về phía đông khoảng 17.000ha, với 3 phân khu. Trong đó, khu phía bắc tập trung sản xuất, logistics, năng lượng; khu trung tâm phát triển thương mại, dịch vụ kết hợp sản xuất tiên tiến; khu phía nam hướng tới đổi mới sáng tạo, dịch vụ số và chất lượng sống ven biển cao cấp.
Tư duy mới, tầm nhìn mới
Liên quan đường hướng phát triển khu vực ven biển tại các địa phương, ngày 28/7/2026, Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển, với những quan điểm, tư duy, tầm nhìn mới.
Trong đó, Nghị quyết xác định biển, đảo là không gian sinh tồn, phát triển, cửa ngõ giao lưu quốc tế và nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia; yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy khai thác biển sang quản trị biển hiện đại; từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia biển mạnh; từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia. Trong đó, hoàn thiện thể chế, quy hoạch không gian biển, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là những động lực then chốt; đồng thời phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh, tuần hoàn, hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm và hành lang kinh tế biển, gắn kết đất liền, biển và hải đảo.
Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu và không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Văn hóa biển được xác định là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia; đời sống cư dân ven biển, hải đảo phải được nâng cao, gắn với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển.
Mục tiêu đến năm 2030 là tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển hiện đại, năng lực cạnh tranh cao; GRDP các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước, tăng trưởng GRDP bình quân trên 11%/năm; hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh. Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia mạnh từ biển, giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, khoa học - công nghệ biển tiên tiến, đời sống nhân dân vùng biển, đảo được nâng cao toàn diện, đồng thời có vị thế, uy tín và vai trò quan trọng trong hợp tác quốc tế, quản trị biển và đại dương toàn cầu.
Để hiện thực hóa mục tiêu, Nghị quyết đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, từ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực, phát triển doanh nghiệp biển, khoa học - công nghệ, hạ tầng và các ngành kinh tế biển, đến bảo vệ môi trường, xây dựng văn hóa biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế. Đường hướng đã sáng, rõ, việc còn lại là sự vận dụng, tổ chức thực hiện sao cho hiệu quả ở mỗi địa phương.
Tháng 5/2026 vừa qua, UBND tỉnh Ninh Bình đã ban hành kế hoạch thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Anh Dũng, tỉnh định hướng xây dựng Khu kinh tế Ninh Cơ trở thành khu kinh tế ven biển tổng hợp, đa ngành, hiện đại; tập trung vào công nghiệp công nghệ cao, logistics biển, cảng biển, năng lượng sạch và đô thị ven biển. Đến năm 2030, Ninh Bình định hướng mở rộng các đô thị hiện hữu, từng bước hình thành và phát triển đô thị Ninh Cơ và đô thị ven biển phía Đông đạt tiêu chí đô thị loại II; đến năm 2045, nghiên cứu mở rộng Khu kinh tế Ninh Cơ lên hơn 80.000 ha, gồm cả đất liền và không gian mặt biển...