Tiếp tục gỡ vướng thủ tục hành chính, hỗ trợ sản xuất
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NNMT) đã cắt giảm gần 9.000 ngày giải quyết thủ tục hành chính (TTHC), tương ứng giảm 53,4%; tiết kiệm 5.310 tỷ đồng chi phí cho người dân, doanh nghiệp (DN). Tuy nhiên, theo các Hiệp hội, DN, vẫn còn nhiều vướng mắc phát sinh trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh...
Vẫn còn nhiều vướng mắc trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi và thú y
Theo ông Nguyễn Thanh Sơn - Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, thời gian qua Bộ NNMT đã có những cải cách lớn về TTHC, trong đó có phân cấp cho địa phương và rà soát nhiều quy định liên quan đến hoạt động của DN, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất.
Tuy nhiên, ông Sơn cho rằng quá trình thực thi ở địa phương hiện vẫn còn một số ách tắc. Vấn đề đầu tiên là thiếu thống nhất trong cách hiểu và tiêu chí xử lý hồ sơ, nhất là với nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.
Cùng một sản phẩm, có địa phương giải quyết nhanh, nhưng khi chuyển sang địa phương khác lại bị yêu cầu bổ sung thêm giấy tờ, kéo dài thời gian. Theo ông Sơn, nguyên nhân một phần do năng lực chuyên môn và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin giữa các địa phương chưa đồng đều.
Vướng mắc thứ hai là tình trạng quá tải, thiếu nhân lực chuyên môn ở cấp địa phương. Nhiều cán bộ chịu áp lực trách nhiệm pháp lý nên có tâm lý xử lý chậm, làm chặt, không dám giải quyết nhanh để thông quan hàng hóa. Điều này khiến DN trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y... bỏ lỡ cơ hội kinh doanh.
Hiệp hội Gia cầm Việt Nam đề nghị bỏ kiểm tra chất lượng nguyên liệu đầu vào đối với DN nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi, bởi DN sẽ chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm trước khi xuất xưởng và chịu sự giám sát thường xuyên của cơ quan quản lý.
Ông Sơn cũng phản ánh thời gian xử lý hồ sơ đăng ký trực tuyến còn kéo dài. Có hồ sơ liên quan đến sản phẩm thuốc thú y mất 6 tháng đến một năm, thậm chí có trường hợp kéo dài nhiều năm. Ngoài ra, quy định về nhãn thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y cũng cần được xem xét lại...
Cũng liên quan đến lĩnh vực chăn nuôi, ông Tống Xuân Chinh - Phó Chủ tịch Hiệp hội Sữa Việt Nam, nguyên Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, cho biết: Hiện nay tất cả các loại sữa và sản phẩm sữa đều thuộc diện phải kiểm dịch. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa thực sự phù hợp với nguyên tắc quản lý dựa trên đánh giá rủi ro, đồng thời làm gia tăng chi phí tuân thủ cho DN.
Theo ông Chinh, sản phẩm sữa có thể chia thành 4 nhóm chính gồm: sữa tươi nguyên liệu, sữa lỏng đã qua chế biến, sữa bột và các sản phẩm sữa chế biến khác. Trong đó, các sản phẩm như sữa thanh trùng, tiệt trùng và sữa bột đều đã được xử lý nhiệt, đóng gói kín trên dây chuyền công nghệ hiện đại nên nguy cơ lây lan dịch bệnh rất thấp.
Vì vậy, Hiệp hội đề xuất chỉ áp dụng kiểm dịch đối với sữa tươi nguyên liệu, còn các sản phẩm đã qua chế biến cần được quản lý theo hướng đánh giá rủi ro, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Lo ngại đất nông nghiệp bỏ hoang gia tăng
Theo ông Trần Mạnh Báo - Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn ThaiBinh Seed, quá trình sắp xếp lại hệ thống quản lý nhà nước và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo thuận lợi cho công tác quản lý, song cũng phát sinh một số vướng mắc mới cần sớm được tháo gỡ.
Theo phản ánh của cộng đồng DN, các khó khăn hiện nay chủ yếu liên quan đến thủ tục công nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh giống cây trồng; việc xác định cây trồng chính; cùng các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Bên cạnh các vấn đề về TTHC, ông Báo bày tỏ băn khoăn trước thực trạng nhiều diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang trong vụ hè thu năm nay, đặc biệt tại khu vực từ miền Trung trở ra miền Bắc.
Tình trạng này phản ánh những khó khăn mà người sản xuất đang phải đối mặt khi chi phí đầu vào liên tục gia tăng trong khi giá nhiều loại nông sản ở mức thấp. Từ đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất và tâm lý đầu tư của người dân đối với hoạt động nông nghiệp.
Ông Báo cho rằng, việc duy trì động lực sản xuất cho nông dân có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển ổn định, bền vững, và mục tiêu tăng trưởng 2 con số của ngành nông nghiệp trong thời gian tới.
Từ thực tế đó, vị này đề nghị Chính phủ nghiên cứu các chính sách hỗ trợ kịp thời cho nông dân, tương tự cách làm của nhiều quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản và các nước châu Âu. Theo ông, việc hỗ trợ không chỉ góp phần ổn định đời sống người dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực trước những biến động khó lường của tình hình thế giới.
Ông Báo cũng nhấn mạnh vai trò của các hiệp hội ngành hàng trong nền kinh tế thị trường. Nếu DN là chủ thể trực tiếp sản xuất, kinh doanh thì các hiệp hội chính là cầu nối giữa DN với cơ quan quản lý nhà nước, thực hiện chức năng phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị và tham gia phản biện chính sách.
Từ đó, ông Báo đề xuất Bộ NNMT duy trì các cuộc gặp gỡ, đối thoại chuyên đề định kỳ với các hiệp hội và DN. Đây không chỉ là kênh để DN phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn mà còn giúp cơ quan quản lý nắm bắt sát hơn nhu cầu của thị trường, hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tế sản xuất.
“Việc tăng cường đối thoại thường xuyên sẽ góp phần củng cố sự gắn kết giữa cơ quan quản lý, hiệp hội và cộng đồng DN, qua đó tạo thêm động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp trong giai đoạn tới” – ông Báo bày tỏ.