TPHCM muốn huy động vốn quốc tế cho hạ tầng
Nhu cầu vốn đầu tư hạ tầng của TPHCM trong những năm tới rất lớn, trong khi ngân sách chỉ đáp ứng một phần. Thành phố đang từng bước chuẩn bị các điều kiện để tiếp cận thị trường trái phiếu quốc tế, mở thêm kênh huy động nguồn vốn dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm.
Ngày 7/10, Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TPHCM (VIFC-HCMC) phối hợp với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) tổ chức cuộc họp tham vấn về phát hành trái phiếu quốc tế tại VIFC-HCMC. Nội dung trọng tâm là tìm kiếm các điều kiện để chuyển nhu cầu đầu tư của thành phố thành những dự án đủ khả năng tiếp cận nguồn vốn dài hạn trên thị trường quốc tế.

Phát biểu trao đổi định hướng các nội dung, ông Trương Minh Huy Vũ - Phó Chủ tịch UBND TPHCM, Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC ví trái phiếu quốc tế như một cây cầu kết nối thành phố với các nhà đầu tư toàn cầu. Cây cầu đó cần được xây dựng trên bốn trụ cột: quy hoạch vững chắc, kỷ luật tài khóa, dự án được chuẩn bị kỹ lưỡng và khuôn khổ pháp lý đầy đủ.
Theo ông Trương Minh Huy Vũ cho rằng, thành phố đã kiên trì trao đổi, phối hợp với IFC, các cơ quan tài chính và đối tác tư vấn trong thời gian dài để tìm kiếm giải pháp huy động vốn quốc tế, từng bước tháo gỡ các vướng mắc pháp lý.
Lãnh đạo UBND TPHCM nhấn mạnh vai trò của Luật Phát triển đô thị trong việc tạo cơ sở pháp lý, mở ra cơ hội để thành phố thúc đẩy triển khai. Các cơ quan liên quan cần tiếp tục rà soát yêu cầu của pháp luật trong nước, pháp luật quốc tế và thông lệ thị trường, chuyển cơ sở pháp lý thành phương án và quy trình thực hiện cụ thể.

Trong 5 năm tới, thành phố cần nguồn lực lớn để phát triển đường sắt đô thị, đường cao tốc, trung tâm dữ liệu, hạ tầng môi trường, cấp nước và xử lý nước thải. Tiếp cận thị trường trái phiếu quốc tế vì vậy là một yêu cầu thực tiễn, cần được triển khai nghiêm túc và bền vững. Thành phố có nhiều nhu cầu đầu tư, nhưng cần xác định thứ tự ưu tiên, lựa chọn dự án phù hợp và tập trung nguồn lực chuẩn bị.
Có dự án mới là bước đầu; điều quyết định là đưa dự án đến trạng thái sẵn sàng tiếp nhận nguồn vốn quốc tế. Từ nền tảng đó, thành phố có thể mở đường cho các đợt phát hành tiếp theo, hình thành kênh huy động vốn lâu dài và tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nguồn vốn quốc tế thông qua VIFC-HCMC.
Từ góc nhìn nhà đầu tư, ông Pavel Kochanov - chuyên gia cao cấp về tài chính đô thị của IFC, phân tích các yếu tố quyết định năng lực vay nợ của thành phố, gồm nền tảng kinh tế, cơ cấu thu – chi, thanh khoản, nghĩa vụ nợ và chất lượng quản trị tài chính. Việc đánh giá cần dựa trên mô hình tài chính cho toàn bộ kỳ hạn vay, có tính đến các kịch bản bất lợi.
Yêu cầu xuyên suốt là khả năng trả nợ bằng nguồn lực tự tạo, với mức dự phòng an toàn phù hợp. Báo cáo tài chính, dữ liệu ngân sách và thông tin về các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn cần đủ rõ để nhà đầu tư đánh giá. Chính sách vay nợ cũng cần kiểm soát rủi ro lãi suất, tỷ giá và tái cấp vốn.

Ở khâu lựa chọn dự án, ông Neeraj Gupta - chuyên gia đầu tư trưởng của IFC đề xuất, ưu tiên những dự án đã hoàn thành nghiên cứu khả thi, có mặt bằng, giấy phép và hồ sơ hợp đồng cần thiết, có thể giải ngân và sớm tạo ra kết quả. Tiến độ sử dụng vốn là yếu tố quan trọng: vốn huy động chưa đưa vào công trình vẫn phát sinh chi phí, làm giảm hiệu quả tài chính của đợt phát hành.
Đối với metro, kinh nghiệm quốc tế được IFC giới thiệu cho thấy cấu trúc tài chính cần phân bổ hợp lý rủi ro về lượng hành khách, mặt bằng và nghĩa vụ thanh toán giữa các bên. Đối với công trình cấp thoát nước và hạ tầng công cộng, cần xem xét đồng thời nguồn thu dự án, khả năng hỗ trợ từ ngân sách và lợi ích phát triển. Việc lựa chọn công cụ tài chính vì vậy phải bám sát đặc điểm của từng nhóm dự án.
Theo báo cáo của Sở Xây dựng thành phố, nguồn vốn ngân sách dự kiến cân đối cho đầu tư kết cấu hạ tầng giai đoạn 2026–2030 khoảng 975 nghìn tỷ đồng, đáp ứng khoảng 31% nhu cầu hơn 3,17 triệu tỷ đồng. Bài toán nguồn lực gắn trực tiếp với những nhu cầu thiết yếu của Thành phố: mở rộng giao thông công cộng, tăng kết nối vùng, giảm ùn tắc, ngập nước và cải thiện hệ thống xử lý nước thải.