Trong gió, mùi hương không bay đi
Ngày xưa, khi còn bé, một năm tôi được ăn rất nhiều bữa cỗ “Tết”. Không kể Tết Nguyên đán, rằm tháng bảy hay mỗi dịp mùng 3/3, mùng 5/5, mùng 10/10… thì sau vụ gặt, “rơm lên cây thóc vào bồ” rồi và mẻ gạo mới đã giã xong, nhà tôi hay làm Tết cơm gạo mới. Đấy sẽ là bữa cơm có gạo mới đầu tiên của mùa lúa mới. Mẹ tôi cẩn thận nấu cơm, đồ xôi bằng thứ gạo mới thơm dẻo ngon nhất vừa được phơi đủ nắng; làm thịt một con gà trống hoa đang tập gáy trong chuồng, băm thịt, đập trứng rán nem và nấu thêm một món canh gì đó thật ngon để dâng lên bàn thờ.

Mâm cỗ ấy là để “tạ lễ” trời Phật và ông bà tổ tiên đã phù hộ cho con cháu khỏe mạnh bình an, đã độ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Thường thì sẽ có một nải chuối tiêu đi cùng trong mâm cơm cúng ấy. Trẻ con chúng tôi sung sướng vô cùng, chỉ chờ hết tuần hương để được ăn cỗ và sau đó là chén món chuối tiêu kèm xôi nếp mới. Một miếng xôi dẻo ngậy kèm theo một miếng chuối tiêu ngọt ngào, đấy là món ăn không bao giờ thiếu vắng của những bữa cỗ Tết cơm gạo mới như thế của tôi hồi còn bé.
Ngày đấy, ngoài những thửa ruộng cấy lúa tẻ thì hầu như nhà ai cũng dành một mảnh ruộng tốt nhất, đẹp nhất để cấy lúa nếp. Nhà tôi cũng thế. Ruộng lúa nếp luôn luôn được chăm sóc cẩn thận để cây lúa cho hạt đều và mẩy. Ngày gặt thửa ruộng lúa nếp cũng được chọn ngày nắng ráo để còn phơi thóc ngay. Thóc nếp cần được phơi nắng thì gạo mới sóng, xôi mới trắng và thơm ngon. Nếu làm chè lam, món đặc sản của làng tôi thì thóc nếp cũng cần phơi “được nắng” để những hoa bỏng được nở to nhất có thể, khi đó bột sẽ đạt và món chè lam sẽ dẻo ngon hơn. Gạo nếp là linh hồn của những bữa cỗ, không có xôi thì không phải là mâm cỗ, nó chỉ là mâm cơm ngon có nhiều thức ăn mà thôi. Không có gạo nếp thì cũng không có món chè hay món bánh chưng, bánh trôi, bánh dợm… Những món ăn làm nên hương vị cỗ Tết ngày xưa của tôi.
Ký ức trong tôi luôn lưu giữ những buổi chiều đầy nắng, gió thì xôn xao trên tán cây ổi trước sân còn mùi xôi nếp thơm lựng quyện lẫn mùi hương trầm thơm ra tận đầu ngõ. Xóm tôi sau mùa gặt thường có những buổi chiều vui như thế, rất nhiều nhà cùng làm “tết”. Chúng tôi sẽ hớn hở chạy sang nhà nhau chỉ để khoe “hôm nay nhà tớ làm tết”, hoặc “tí nữa tớ được ăn xôi với chuối”. Đấy là niềm hạnh phúc khó diễn tả bằng lời. Và người lớn cũng vui không kém, cả nhà mỗi người một việc tíu tít. Trong bếp thì rộn ràng tiếng dao thớt, bát đũa và thơm lừng mùi vị của các món ăn ngày thường không có.
Những năm được mùa, ngoài món xôi đỗ xanh thì nhà tôi còn nấu thêm chè. Chè con ong hoặc chè hoa cau, tất cả đều không thể thiếu được thành phần chính là gạo nếp mới và mật mía vàng ươm. Những món chè thơm ngon vô cùng tận, đến nỗi chỉ mới nghe mẹ nói sẽ làm món chè đó là tôi đã khấp khởi vui mừng. Khi món chè nóng hổi được đơm lên đĩa hoặc múc vào bát và bày lên mâm cúng thì tôi sẽ được vét nốt chút chè xém còn sót lại dưới đáy nồi. Nhiều khi đáy nồi còn lại một lượng kha khá đủ làm dịu cái dạ dày háu đói cứ sôi lên sùng sục của ba chị em. Tôi cũng lờ mờ đoán ra mẹ tôi đã cố tình làm thế bởi việc đợi chờ đến hết tuần hương chúng tôi mới được đánh chén là một việc quá sức chịu đựng. Với những đứa trẻ “cái mắt to hơn cái bụng”, bà biết chắc chỉ chốc nữa thôi chúng tôi sẽ nhanh chóng lúc lắc cái đầu mà từ chối món chè chỉ vì “con ăn chán rồi”. Bà luôn “đi guốc trong bụng” chúng tôi là vì thế.
Những buổi chiều đó, tôi sẽ chạy lăng xăng trong chiếc sân gạch đỏ au đã được mái nhà bếp che quá nửa bóng nắng để giúp mẹ nhặt rau thơm hoặc rửa chén lấy nước thắp hương trên bàn thờ. Công việc ấy ngày thường chúng tôi không có dịp để làm nên đứa nào cũng hăng hái lắm. Cho đến bây giờ mùi thơm của gạo mới đang nấu sôi trên bếp và những loại rau gia vị luôn nhắc tôi nhớ tới những bữa cỗ thuở ấu thơ mà tôi hằng mong đợi. Những bữa cỗ với cơm gạo mới thơm dẻo làm cho cả nhà quên đi những vất vả vừa qua, ai cũng cho rằng có mùa màng tươi tốt trước tiên phải tỏ lòng biết ơn với “bề trên”, trước khi con cháu ăn phải mời các cụ trước đã.
Gạo mới gặt khi nấu cơm sẽ có một mùi thơm cực kỳ đặc biệt, tôi luôn không biết cách gọi tên của nó như thế nào cho phải, chỉ biết gọi là mùi thơm của cơm gạo mới mà thôi. Mùi thơm ấy không có ở nồi cơm gạo cũ nên được ăn cơm gạo mới luôn là điều tất cả mọi người mong đợi. Cả nhà sẽ được thư thả ít bữa trước khi bước vào những ngày vất vả mới khi mùa cấy tiếp theo sắp sửa bắt đầu. Đấy cũng là phần thưởng dành cho bọn trẻ vì suốt những ngày mùa vất vả đã chăm ngoan giúp đỡ gia đình.
Nhưng cũng có quãng thời gian cuộc sống khó khăn tới mức nhiều gia đình sau một mùa gặt bội thu nhưng vẫn phải dè sẻn niềm vui hưởng thụ thành quả lao động của mình. Nhà tôi cũng thế, nhiều khi không dám ăn gạo mới ngay vì gạo mới ăn “hao”, nấu cơm không nở như gạo cũ. Vì thế sẽ cần nấu nhiều hơn, vả lại gạo mới ngon, dễ ăn nên nồi cơm cũng vơi đi nhanh chóng. Cả nhà cần ăn hết chỗ thóc gạo của mùa trước, cho dù nó có khô cứng hay ngả màu vàng đi chăng nữa thì vẫn rất hạnh phúc. Ngày đấy, có đủ gạo ăn là mong ước lớn nhất rồi, cho nên gạo dù dẻo ngon hay khô cứng thì cũng chẳng ai chê cả.
Cũng có những năm được mùa liên tiếp, thóc cũ còn nhiều quá thì bố mẹ sẽ nghĩ tới việc bán bớt đi để mua sắm những đồ dùng cần thiết trong nhà, mua quần áo sách vở cho chúng tôi. Dư dả hơn nữa thì mua sẵn một bè tre ngâm xuống ao hay mấy trăm viên gạch xếp sẵn vào góc vườn, chờ khi nào “có điều kiện” thì cất ngôi nhà mới. Những lứa lợn lớn lên trong chiếc chuồng nhỏ, hàng ngày ăn bèo ăn cám chắt chiu tiết kiệm cũng góp sức đồng hành với mọi người để biến thành những hòn vôi xẻng cát. Ngôi nhà thơ ấu của tôi được làm nên như thế đấy.
Cho nên dù còn bé tí, chúng tôi cũng biết vui khi chiếc quây thóc trong căn buồng tối căng tròn và được cơi lên cao, biết âu lo những khi thấy nó cạn đến đáy và xẹp lép, tim cũng thắt lại khi mỗi mùa giáp hạt, thấy mẹ lấy tải sắn khô ra chuẩn bị cho những bữa cơm độn chống đói sắp tới. Và “tháng ba ngày tám” hay “mùa giáp hạt” luôn là những từ ám ảnh chúng tôi trong rất nhiều năm thơ bé. Cũng có thể vì thế, hương vị và ký ức về những bữa cỗ “tết” sau mỗi mùa gặt luôn ở lại rất lâu trong tâm trí.
Điều tôi thấy hạnh phúc nhất bây giờ là cuộc sống ở làng quê đã khác xưa nhiều lắm, người nông dân quê tôi chẳng những được ăn ngon, mặc đẹp mà nhiều người đã và đang hướng tới việc ăn sạch, sống sạch. Những bữa cơm với bát cơm luôn dẻo thơm và các món ăn đủ đầy dinh dưỡng không còn là vấn đề nữa. Nhắc tới một thời thiếu thốn, lòng tôi bỗng thấy nôn nao. Mỗi khi mùa gặt đi qua, nhìn thấy sân lúa vàng ươm của nhà ai đó đã được mặt trời hong cho khô giòn, tôi lại nghĩ đến việc ngày mai mình sẽ đi mua gạo quê mới gặt nấu cơm cho cả nhà. Mùi cơm gạo mới vẫn ở trong tôi, nguyên vẹn như buổi chiều nào tôi lăng xăng trong sân nhà, hăng hái phụ giúp mẹ những công việc lặt vặt của bữa cỗ Tết nhân dịp có cơm gạo mới. Những chiều vui biết bao vì trong nắng, gió không làm bay đi mất những mùi hương no ấm.