Báo Đại Đoàn Kết Mặt trận

Từ chiều sâu lịch sử, bồi đắp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Từ chiều sâu lịch sử, bồi đắp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031 diễn ra ngày 29 và 30/9 tại Thủ đô Hà Nội, là dịp để giới sử học nhìn lại một chặng đường hoạt động, đồng thời cũng gợi ra một câu hỏi: Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, sử học tiếp tục đóng góp như thế nào vào việc củng cố lòng dân, tạo đồng thuận và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc?

Văn kiện Đại hội XI Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhìn nhận đại đoàn kết như một năng lực phát triển quốc gia, có khả năng khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo và tạo đồng thuận xã hội. Đây cũng là một gợi mở quan trọng đối với giới sử học. Chúng ta cần tiếp tục làm rõ, bằng những cứ liệu và nghiên cứu thuyết phục, vì sao trong những thời điểm quyết định dân tộc ta có thể quy tụ được sức mạnh của nhiều tầng lớp, nhiều lực lượng; đâu là những nhân tố tạo nên sự đồng thuận và bài học nào còn nguyên giá trị đối với công tác đoàn kết, tập hợp Nhân dân hiện nay.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031
Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031

Giữ chuẩn mực khoa học nhưng phải gần gũi với đời sống

Hiện Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam duy trì được mạng lưới gồm 40 hội, chi hội thành viên với gần 7.000 hội viên. Đó là một lực lượng trí thức sử học có mặt ở nhiều viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan và địa phương; trực tiếp nghiên cứu, giảng dạy, biên soạn lịch sử, tham gia bảo tồn di sản và truyền bá tri thức lịch sử trong xã hội.

Nhiều công trình, hội thảo khoa học lớn được triển khai trong nhiệm kỳ cho thấy vai trò chuyên môn của Hội: Tham gia Đề án nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam; nghiên cứu, tuyên truyền về chủ quyền quốc gia, lãnh thổ; nghiên cứu về vùng đất Nam Bộ; tổ chức nhiều hội thảo về danh nhân, di sản, địa phương chí và những vấn đề lớn trong lịch sử dân tộc.

Những kết quả của nhiệm kỳ VII là đáng ghi nhận. Nhưng nếu nhìn với tinh thần khoa học và trách nhiệm nghề nghiệp, vẫn có những việc chúng ta cần suy nghĩ thêm để hoạt động của Hội tương xứng hơn với tiềm năng của một tổ chức tập hợp đông đảo các nhà sử học trong cả nước.

Một điều dễ nhận thấy là khoảng cách giữa nghiên cứu chuyên sâu với công chúng vẫn còn khá xa. Không ít công trình có giá trị chủ yếu được biết đến trong giới nghiên cứu; nhiều kết quả hội thảo chưa đi xa hơn phạm vi kỷ yếu. Trong khi đó, người dân, nhất là lớp trẻ lại rất cần những sản phẩm lịch sử vừa chính xác, vừa dễ tiếp cận, có khả năng khơi gợi sự quan tâm và niềm tự hào một cách tự nhiên.

Vì thế, làm sử hôm nay không chỉ cần “nghiên cứu đúng” mà còn phải tìm cách “nói cho công chúng hiểu”. Cơ sở dữ liệu số, bản đồ lịch sử, phim tài liệu, podcast, chuyên trang, ấn phẩm phổ thông hay những nội dung đa phương tiện đều có thể trở thành cầu nối. Điều cốt lõi là vẫn phải giữ được chuẩn mực khoa học, nhưng cách thể hiện phải gần gũi hơn với đời sống.

Phát huy trí tuệ của một hội quần chúng đặc thù

Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 20/7/2026 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò của các hội quần chúng trong giai đoạn phát triển mới đặt ra yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; phát huy tự chủ, tự quản; huy động trí tuệ, kinh nghiệm và tinh thần cống hiến của hội viên; chú trọng sản phẩm, hiệu quả và đóng góp cho xã hội.

Từ thực tế đó, trong nhiệm kỳ VIII có một số việc nên được chú ý hơn.

Một là, nên tiếp tục dành sự quan tâm thích đáng cho những nghiên cứu có chiều sâu về lịch sử đại đoàn kết dân tộc, về Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, về đóng góp của các dân tộc, tôn giáo, trí thức, doanh nhân và người Việt Nam ở nước ngoài trong tiến trình dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước. Nghiên cứu về đoàn kết không có nghĩa là chỉ nhấn mạnh mặt thuận chiều; càng cần làm rõ cả những bài học chưa thành công và những điều kiện thực tế để tạo dựng đồng thuận xã hội.

Hội cần phát huy tốt hơn vai trò tư vấn, phản biện, cung cấp luận cứ lịch sử đối với những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn, nhất là bảo tồn di sản, giáo dục lịch sử, văn hóa, địa danh, địa giới, phát triển đô thị và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Lịch sử không quyết định thay cho hiện tại, nhưng một quyết định lớn thiếu căn cứ lịch sử có thể để lại những hệ quả khó khắc phục.

Hiện nay chuyển đổi số và truyền thông lịch sử cần được coi là một phần của công việc chuyên môn. Hội có thể làm đầu mối kết nối các viện, trường, bảo tàng và hội địa phương trong việc chia sẻ tư liệu, dữ liệu, sản phẩm lịch sử có độ tin cậy cao; đồng thời tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu trẻ tham gia nhiều hơn vào không gian số.

Đặc biệt, cần phát huy rõ hơn vai trò của Hội như một không gian tập hợp và kết nối trí thức sử học; đồng thời tăng cường phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên. Điều đáng quan tâm không chỉ là mối quan hệ về tổ chức, mà quan trọng hơn là tạo thêm những kênh để các nhà sử học đóng góp trực tiếp vào việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ và xây dựng đồng thuận xã hội.

Lịch sử phải trở thành nguồn lực cho tương lai

Đại hội là một dấu mốc, nhưng điều đáng chờ đợi hơn là những chuyển động sau Đại hội. Nhiệm kỳ VIII bắt đầu khi đất nước đang đứng trước nhiều yêu cầu mới về phát huy nguồn lực con người, trí tuệ, tinh thần cống hiến và sự đồng thuận trong xã hội. Đó cũng là bối cảnh để Hội tự đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với chính mình.

Người làm sử có một lợi thế, đồng thời cũng là một trách nhiệm: được làm việc với ký ức của dân tộc. Ký ức ấy chỉ thực sự sống khi giúp con người hôm nay hiểu rõ hơn mình đã đi qua con đường nào, vì sao có được ngày hôm nay và cần cùng nhau giữ gìn, vun đắp những giá trị gì cho tương lai.

Từ chiều sâu lịch sử dân tộc, có thể khẳng định đại đoàn kết là một giá trị được kiểm nghiệm bằng chính sự tồn tại và phát triển của đất nước. Trách nhiệm của người làm sử hôm nay là tiếp tục nhận diện, giải thích, gìn giữ và truyền lại giá trị ấy bằng những công trình khoa học nghiêm túc, bằng tiếng nói trung thực, khách quan và bằng những phương thức truyền bá phù hợp với thời đại.

Nhiệm kỳ VIII bắt đầu khi đất nước đang đứng trước nhiều yêu cầu mới về phát huy nguồn lực con người, trí tuệ, tinh thần cống hiến và sự đồng thuận trong xã hội. Đó cũng là bối cảnh để Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tự đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với chính mình. 

TS. Lê Mậu Nhiệm