Từ đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải đến một Quảng Trị mới
Từng là giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt đất nước trong hơn 20 năm, Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải hôm nay đã trở thành “nhân chứng lịch sử” cho khát vọng thống nhất, hòa bình, độc lập và hành trình mở ra một không gian phát triển mới của Quảng Trị.

Dòng sông đôi bờ vĩ tuyến
Những ngày tháng Tám, tiết trời ở Quảng Trị đã dịu hơn sau những ngày hè oi ả. Dòng Bến Hải trong xanh, hiền hòa, trên kỳ đài Hiền Lương, lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc tung bay trong gió. Giữa không gian bình yên hôm nay, ít ai có thể hình dung nơi đây từng là giới tuyến chia cắt đất nước.
Chào đón đoàn khách tham quan Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải, bà Lê Diệu Khánh - hướng dẫn viên của di tích, nhắc lại những năm tháng mà Vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến quân sự tạm thời. Qua lời giới thiệu bằng chất giọng đặc trưng Quảng Trị của bà Khánh, từng hình ảnh, mô hình, hiện vật… tại Nhà trưng bày Vĩ tuyến 17 và Khát vọng thống nhất lần lượt mở ra câu chuyện về một thời đất nước bị chia cắt, về cuộc đấu tranh gian khổ, kiên cường của quân và dân hai bờ Bến Hải.
Không chỉ chia cắt tạm thời đất nước, giới tuyến ấy còn chia cắt tỉnh Quảng Trị, huyện Vĩnh Linh, xã Vĩnh Sơn (cũ), những làng quê và hàng nghìn gia đình ở hai bên dòng sông. Theo thống kê, ước tính, khoảng 60 gia đình ở khu vực hai bên cầu Hiền Lương và khoảng 6.000 gia đình cán bộ, chiến sĩ của ta ở các khu vực: Hải Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, Gio Linh... tỉnh Quảng Trị thời điểm ấy chịu cảnh chia cắt.
Người ở bờ bên này sông Bến Hải có thể nhìn thấy, thậm chí nghe thấy giọng nói từ người thân của mình ở phía bên kia hoặc chỉ cách nhau khoảng chừng chục km mà suốt nhiều năm trời họ không thể gặp gỡ, khiến vợ phải xa chồng, cha mẹ chia lìa con cái… gợi nên bao nhung nhớ, đợi chờ. Tất cả tạo thành những nỗi đau riêng của người dân ở đôi bờ Bến Hải. Và, nỗi đau ấy đã hòa vào nỗi đau chung của đất nước, trở thành khát vọng cháy bỏng chờ ngày thống nhất non sông.
Lá cờ đỏ sao vàng - niềm tin sắt son của ngày thống nhất non sông
Trong những năm tháng ấy, Hiền Lương không chỉ là nơi diễn ra những trận chiến bằng bom đạn. Nơi đây còn chứng kiến một cuộc đấu tranh đặc biệt - cuộc chiến của niềm tin và ý chí, trong đó, lá cờ đỏ sao vàng trên kỳ đài trở thành biểu tượng mạnh mẽ.

Theo bà Lê Thị Tố Hoài - Trưởng Ban quản lý Khu di tích quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương, thể theo nguyện vọng của nhân dân hai bờ sông Bến Hải, cột cờ đầu tiên được dựng ở phía Bắc cầu Hiền Lương nhân dịp Quốc khánh 2/9/1954. Cột cờ làm bằng cây phi lao, cao 12m. Phía bờ Nam sau đó cũng cắm cờ trên tháp canh tại đồn Xuân Hòa, cao 15m.
Nhân dân đôi bờ không chấp nhận lá cờ Tổ quốc ở phía Bắc thấp hơn cờ bên kia nên các chiến sĩ Công an giới tuyến đã vào rừng tìm cây gỗ cao 18m về thay thế. Phía bên kia cũng tiếp tục nâng cột cờ tạo ra cuộc “chọi cờ” đặc biệt ở Hiền Lương.
Đến năm 1962, Trung ương giao Tổng công ty Lắp máy Việt Nam gia công một cột cờ cao 38,6m, vận chuyển từ Hà Nội vào Hiền Lương. Lá cờ có diện tích 96m2. Phía bờ Nam khi ấy giữ cột cờ ở độ cao 35m. PGS.TS Hoàng Chí Hiếu cho rằng, ngọn cờ Tổ quốc tung bay trên kỳ đài phía Bắc cầu Hiền Lương là niềm tin, là ý chí, đã tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân ta trong công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.
Được giao nhiệm vụ may cờ Tổ quốc treo ở cầu Hiền Lương từ khoảng năm 1959, với ông Nguyễn Đức Lãng (89 tuổi, trú tại phường Nam Đông Hà), lá cờ ấy đã trở thành một phần cuộc đời ông. Trong hơn 10 năm liền, nhiều lần ông Lãng phải thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng này giữa những trận bom, ngồi may cờ ở những khu tránh trú chật hẹp. Nhưng, với lòng quyết tâm cao nhất, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ông Lãng vẫn cẩn thận từng đường kim, mũi chỉ, luôn hoàn thành nhiệm vụ, để lá cờ đỏ sao vàng không một ngày nào vắng bóng trên kỳ đài.
Ông Lãng cho biết, quê mình ở Cam Hiếu, Cam Lộ, Quảng Trị cũ. Dù bị chia cắt, bà con ở quê vẫn tìm cách báo tin cho ông rằng, họ tự hào khi nhìn thấy ngọn cờ đỏ sao vàng tung bay ở Hiền Lương, nhất là khi biết lá cờ ấy do chính người con vùng đất Cam Lộ may nên.
Từ một công việc tưởng như lặng thầm, ông Lãng đã góp một phần nhỏ bé vào việc giữ cho biểu tượng ấy hiện diện giữa bom đạn. Với ông, lá cờ là niềm tin; với người dân đôi bờ, đó là khát vọng sum vầy; và với đất nước, đó là biểu tượng về độc lập, thống nhất non sông.
Từ biểu tượng hòa bình đến không gian Quảng Trị mới
Niềm tin của người dân đôi bờ sông Bến Hải đã được đền đáp xứng đáng khi năm 1972, phần lớn tỉnh Quảng Trị được giải phóng, ông Nguyễn Đức Lãng có cơ hội gặp lại gia đình. Sau mười mấy năm xa cách, lúc đầu nhiều người thân không nhận ra ông Lãng. Và, đến khi nhận ra, cả gia đình ôm nhau, òa khóc trong niềm hạnh phúc.
Theo bà Lê Thị Tố Hoài, Cột cờ phía Bắc cầu Hiền Lương được xây dựng lại vào năm 2001, cao 38,6m, dựa theo một phần mẫu thiết kế năm 1962, phía dưới là phần nền với những bức phù điêu tôn vinh chiến thắng. Tháng 12/2013, Di tích Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải được Thủ tướng Chính phủ công nhận là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.
Hiền Lương hôm nay không chỉ lưu giữ những gì đã qua, mà quan trọng hơn, mỗi người dân đến đây sẽ được kết nối, được tìm về ký ức của một nơi từng bị chia cắt với bao đau thương, nhung nhớ.
Không chỉ vậy, trong một Quảng Trị đang bước vào không gian mới, ý nghĩa của “nối lại đôi bờ” có thể được liên tưởng đến tương lai tươi đẹp hơn. Trong câu chuyện không gian mới ấy, trong sự phát triển ấy của Quảng Trị, dòng sông Bến Hải, cây cầu Hiền Lương, lá cờ đỏ sao vàng tung bay kiêu hãnh trên kỳ đài… không đơn thuần là nơi kể lại một thời đất nước bị chia cắt. Những ký ức ấy sẽ được chuyển hóa thành động lực xây dựng quê hương, như cách người dân đôi bờ đã từng chuyển nỗi đau chia cắt thành khát vọng, niềm tin vào ngày thống nhất.
Bởi, tại Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải sẽ vang mãi lời nhắc nhở: giữa bom đạn, khói lửa chiến tranh, các thế hệ cha ông ta vẫn giữ niềm tin sắt son, kiên cường chiến đấu để đất nước được thống nhất, thế hệ hôm nay có trách nhiệm tiếp tục phát huy truyền thống ấy, dựng xây và đưa Quảng Trị bước vào một chặng đường phát triển mới.