Báo Đại Đoàn Kết Mặt trận

Từ nhà yêu nước kiên trung đến hạt nhân quy tụ lòng dân

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Từ nhà yêu nước kiên trung đến hạt nhân quy tụ lòng dân

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng là một biểu tượng ngời sáng về lòng yêu nước, trí tuệ và đạo đức cách mạng.

Từ một sĩ phu hàng đầu của phong trào Duy Tân đến Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, Quyền Chủ tịch nước, cuộc đời cụ là tấm gương trọn đời tận tụy phụng sự Tổ quốc, hết lòng vì Nhân dân và luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947) sinh tại Quảng Nam cũ, vùng đất giàu truyền thống yêu nước. Nổi tiếng thông minh, hiếu học, cụ đạt đỉnh cao khoa bảng khi đỗ Giải nguyên năm 1900 và xuất sắc đỗ Hội nguyên, Tiến sĩ năm 1904. Cùng các nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp tham gia khởi xướng và thúc đẩy phong trào Duy Tân ở Quảng Nam; đồng thời giữ quan hệ, trao đổi tư tưởng cứu nước với Phan Bội Châu.

Khi phong trào chống thuế bùng nổ năm 1908, cụ bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo. 13 năm lao tù khắc nghiệt (1908 - 1921) càng tôi luyện “lòng son dạ sắt” của chí sĩ kiên trung vì dân, vì nước. Sau khi rời Côn Đảo, năm 1926, với uy tín sâu rộng, cụ ứng cử và trúng cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, được bầu giữ chức Viện trưởng. Cụ đã biến nghị trường thành diễn đàn đấu tranh đòi dân quyền, giảm thuế, mở rộng việc học và cải thiện đời sống nhân dân.

Năm 1927, cụ sáng lập và làm chủ bút báo Tiếng Dân tại Huế. Năm 1928, cụ tuyên bố từ chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ.

Trân trọng tài đức của chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cụ tham gia Chính phủ. Giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I (tháng 3/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cụ “là một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết”.

Để củng cố và mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cảnh đất nước thù trong giặc ngoài, ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) được thành lập theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tập hợp tối đa các lực lượng yêu nước, không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo hay xu hướng chính trị. Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng là thành viên sáng lập, được bầu làm Hội trưởng. Hội hướng tới mục tiêu đoàn kết toàn dân, đấu tranh cho Tổ quốc độc lập, thống nhất, dân chủ và phú cường.

Cuối tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp và trao quyền Chủ tịch nước cho cụ Huỳnh cùng phương châm: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Hơn 4 tháng giữ cương vị Quyền Chủ tịch nước, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã thể hiện bản lĩnh kiên cường, sự khôn khéo và lòng trung thành vô hạn với dân tộc.

Cuối tháng 11/1946, trước nguy cơ chiến tranh lan rộng, cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Đặc phái viên Chính phủ đi kinh lý miền Trung. Dù tuổi cao sức yếu, cụ vẫn lặn lội thăm hỏi đồng bào tại các tỉnh Trung Bộ, từ Quảng Bình qua Huế, Quảng Nam đến Quảng Ngãi, tuyên truyền đường lối kháng chiến và kêu gọi nhân dân đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đầu tháng 4/1947, cụ lâm bệnh nặng tại Quảng Ngãi. Trên giường bệnh, cụ đọc cho thư ký ghi lời vĩnh quyết gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang, hạnh phúc”.

Sự ra đi của cụ Huỳnh Thúc Kháng là một tổn thất to lớn. Trong thư gửi đồng bào toàn quốc ngày 29/4/1947, tiếc thương vị chí sĩ yêu nước kiên trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh xúc động bày tỏ: “Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”; “Cả cuộc đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.

Nhìn lại hành trình dâng trọn đời mình cho Tổ quốc của chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, chúng ta không chỉ nghiêng mình trước một nhân cách lớn, một “lòng son dạ sắt” kiên trung mà còn nhận thức sâu sắc hơn về giá trị sống còn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tư tưởng, bản lĩnh cùng những bài học quý giá về quy tụ nhân tâm, dùng người hiền tài và đặt lợi ích dân tộc lên trên hết vẫn nguyên vẹn giá trị thời đại.

Thu Hoàn