Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Vai trò của Mặt trận Việt Minh với sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Vai trò của Mặt trận Việt Minh với sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt họp tháng 3/1951 tại tỉnh Tuyên Quang nêu rõ: “Lịch sử Việt Minh 10 năm đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc cũng là những trang sử vẻ vang vào bậc nhất của dân tộc Việt Nam ta”.

Đảng và Mặt trận Việt Minh lãnh đạo Nhân dân tham gia mít-tinh tại Nhà hát Lớn Hà Nội để tiến hành giành chính quyền ngày 19/8/1945.
Đảng và Mặt trận Việt Minh lãnh đạo Nhân dân tham gia mít-tinh tại Nhà hát Lớn Hà Nội để tiến hành giành chính quyền ngày 19/8/1945.

Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập diễn ra tại lán Khuổi Nặm, Pác Bó (Cao Bằng). Hội nghị khẳng định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là đấu tranh giải phóng dân tộc và quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống Pháp - Nhật lấy tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh).

Ngày 25/10/1941, Mặt trận Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, chủ trương: “Liên hiệp các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng và sinh tồn”.

Chương trình của Mặt trận Việt Minh cũng là nhiệm vụ mà Chính phủ Nhân dân tương lai sẽ thực hiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao và đối với các tầng lớp Nhân dân. Chương trình khẳng định: “Cách mạng Việt Nam sẽ thắng lợi, một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chân chính dân chủ sẽ xuất hiện. Cách mạng dân tộc giải phóng thành công, chúng ta sẽ thi hành bản Chương trình vĩ đại trên đây”.

Về tổ chức, Mặt trận Việt Minh được tổ chức theo hệ thống từ Trung ương đến cơ sở. Ở xã có Ban Chấp hành Việt Minh do các đoàn thể Việt Minh ở làng hay xã cử ra; tổng, huyện (hay phủ, châu, quận), tỉnh, kỳ có Ban Chấp ủy Việt Minh cấp ấy; toàn quốc thì có Tổng bộ Việt Minh.

Với chủ trương, chính sách đúng đắn, Mặt trận Việt Minh đã thu hút được ngày càng đông đảo các tầng lớp, giai cấp có tinh thần yêu nước và chống đế quốc thực dân vào các hội cứu quốc như: Hội Nông dân Cứu quốc, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Hội Thanh niên Cứu quốc, Hội Công nhân Cứu quốc, Hội Nhi đồng cứu quốc... Các hội cứu quốc sau đó đều là thành viên của Mặt trận Việt Minh.

Cuối năm 1941, tại Cao Bằng (căn cứ địa cách mạng) xuất hiện một số xã, tổng hoàn toàn tham gia Việt Minh. Đến năm 1942, Cao Bằng có 3 trên tổng số 9 châu hoàn toàn Việt Minh, xã nào cũng có Ủy ban Việt Minh. Bên cạnh Cao Bằng là trung tâm của phong trào cứu quốc cả nước, Mặt trận Việt Minh cũng được phát triển mạnh mẽ tại các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên,…

Trong hai năm (1943 - 1944), các đoàn thể của Mặt trận Việt Minh phát triển nhanh chóng ở khắp các tỉnh, thành phố, trong các nhà máy, trường học… khắp cả nước. Tại Hà Nội, tổ chức Việt Minh đã được phát triển mạnh trong các nhà máy xe lửa Gia Lâm, nhà máy sửa chữa ô tô AVIA, STAI, ở các trường trung học Bưởi, Gia Lâm, trường Kỹ nghệ thực hành,... Tại Sài Gòn, Gia Định và một số thành phố khác ở miền Nam, tổ chức Việt Minh đã được thành lập với nhiều tổ chức thành viên như công hội, thanh niên, phụ nữ... Đặc biệt tại Việt Bắc, trên cơ sở các “xã hoàn toàn”, “tổng hoàn toàn”, các căn cứ địa cách mạng đã được thành lập ở khắp các tỉnh. Ủy ban Việt Minh liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng lập ra 19 ban xung phong “Nam tiến” để liên lạc với căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và phát triển lực lượng cách mạng xuống các tỉnh miền xuôi. Cùng trong năm 1943, Hội Văn hoá Cứu quốc - một thành viên của Mặt trận Việt Minh đã được thành lập.

Đầu tháng 5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị cho các cấp sửa soạn khởi nghĩa và kêu gọi Nhân dân “sắm vũ khí đuổi thù chung”. Tháng 6/1944, Đảng ta đã giúp những trí thức tiến bộ, yêu nước thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam, thu hút họ vào Mặt trận Việt Minh.

Để giải quyết nạn đói và tập hợp Nhân dân đứng lên đấu tranh đánh đuổi phát xít Nhật và tay sai, tháng 3/1945, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”. Chủ trương này đã đáp ứng đúng nguyện vọng bức thiết của Nhân dân và lôi kéo hàng triệu người dân đoàn kết dưới ngọn cờ của Việt Minh đấu tranh đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật và bè lũ tay sai của chúng. Ngày 12/4/1945, Mặt trận Việt Minh đã ra lời kêu gọi Mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị quan chức ái quốc Việt Nam và Mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị huynh thứ ái quốc.

Với chính sách mở rộng và phát triển tổ chức Việt Minh, từ tháng 5/1945, trong phong trào thanh niên, sinh viên ở Nam Bộ đã ra đời tổ chức “Thanh niên Tiền phong”. Tổ chức này được thành lập từ Sài Gòn, sau đó lan rộng ra hầu khắp các tỉnh Nam Bộ. Tính chung ở Nam Bộ đến tháng 8/1945, tổ chức đã có trên 1 triệu đoàn viên, riêng ở thành phố Sài Gòn số đoàn viên có tới 20 vạn.

Mặt trận Việt Minh đã thu phục được một bộ phận không nhỏ những người làm việc cho bộ máy đế quốc thực dân ngả theo cách mạng như một số lý trưởng, chánh tổng, tri phủ, tri huyện, một số binh lính bảo an, công chức, cảnh sát… Ở khắp các địa phương trên cả nước, những lực lượng này đã chủ động liên hệ với Việt Minh, ủng hộ cách mạng, kể cả một số người đứng đầu những tôn giáo, đảng phái như Cao Đài, Hòa Hảo ở Long Xuyên, Sa Đéc.

Đến giữa năm 1945, Mặt trận Việt Minh đã có 5 triệu hội viên. Sự phát triển của Mặt trận Việt Minh đã tạo điều kiện cho Đảng ta xây dựng các căn cứ địa cách mạng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Pác Bó-Cao Bằng là căn cứ địa cách mạng đầu tiên được xây dựng. Tiếp đó, Căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn-Võ Nhai được thành lập (2/1941). Đầu năm 1943, Căn cứ Cao Bằng-Bắc Sơn được nối liền. Sau đó căn cứ địa được mở rộng ra 6 tỉnh: Cao-Bắc-Lạng-Hà-Tuyên-Thái. Ngày 15/5/1945, Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân cũng đã thống nhất lại thành Việt Nam Giải phóng quân. Tháng 6/1945, Đảng ta quyết định thành lập Khu giải phóng Việt Bắc và cùng với hệ thống các chiến khu trong cả nước tạo thành bàn đạp vững chắc cho thế trận Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào (Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh đã khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân (còn gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào). Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc - Trung - Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào.

Quốc dân Đại hội Tân Trào đã thông qua Mười chính sách của Việt Minh và hiệu triệu đồng bào tích cực phấn đấu thực hiện.

Quốc dân Đại hội Tân Trào cũng đã thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, ông Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch và các uỷ viên gồm các ông: Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Dương Đức Hiền, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Xuân, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Hiến, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Đang. Ban Thường trực năm người gồm: Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí: Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền… Quốc dân Đại hội Tân Trào quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng 5 cánh ở giữa và Quốc ca là bài “Tiến quân ca”.

Ngày 18/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa. Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa có đoạn: “Việt Minh là cơ sở cho sự đoàn kết, phấn đấu của dân tộc ta trong lúc này. Hãy gia nhập Việt Minh, ủng hộ Việt Minh, làm cho Việt Minh rộng lớn mạnh mẽ”. Cuối Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”.

Ngày 25/8/1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2/9/1945, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, đồng chí Nguyễn Lương Bằng (đại diện Tổng bộ Việt Minh) đọc diễn văn khái quát lại vai trò, sứ mệnh lịch sử vinh quang của Mặt trận Việt Minh trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và đọc Lời hiệu triệu đồng bào cả nước, trong đó nêu rõ: Quyền độc lập của chúng ta còn mong manh. Giành được chính quyền là việc khó, giữ vững chính quyền lại càng khó khăn hơn. Việt Minh suốt mấy năm nay kiên quyết phấn đấu, chịu bao hy sinh, đau đớn mới có độc lập. Ngày nay, chính quyền đã được thành lập. Việt Minh không cho thế là đủ. Việt Minh biết rằng: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm.

Bởi vậy, đồng chí Nguyễn Lương Bằng nhấn mạnh Tổng bộ Việt Minh quyết lãnh đạo đồng bào san phẳng mọi trở lực đặng giữ vững quyền độc lập đã giành được, không trông chờ vào người khác, một lòng ủng hộ Chính phủ, sẵn sàng đập tan kế hoạch xâm lược của thực dân Pháp.

Cuối tháng 8/1945, 20 vạn quân Quốc dân Đảng Trung Hoa kéo vào nước ta. Ngày 9/9/1945, quân Tưởng đã tiến đến Hà Nội. Mặt trận Việt Minh đã tiến hành mở rộng lực lượng và thực hiện việc đại đoàn kết dân tộc với các đảng phái, tổ chức khác để thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời vào ngày 1/1/1946, Chính phủ liên hiệp Kháng chiến vào ngày 2/3/1946 và sau đó là Chính phủ liên hiệp Quốc dân vào ngày 3/11/1946. Tại Quốc hội khóa I (1946-1960), Mặt trận Việt Minh có 120 đại biểu trên tổng số 403 đại biểu và đã góp công to lớn trong việc xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành một nhà nước pháp quyền vì dân.

Để đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng và sự phát triển của Mặt trận Dân tộc Thống nhất, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) được thành lập vào ngày 25/9/1946. Thực hiện Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946), Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt đã ra sức tuyên truyền, vận động đông đảo Nhân dân tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Ngày 3/3/1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt thống nhất lại thành Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt). Về sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Với lực lượng đoàn kết ấy, chúng ta sẽ vượt qua hết thảy mọi khó khăn, gian khổ, chúng ta sẽ đánh tan tất cả mọi kẻ thù đế quốc thực dân”.

Đúng như nhận định của Người, Mặt trận Liên Việt sau đó không ngừng lớn mạnh, tạo nên sức mạnh to lớn khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần to lớn đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đến thắng lợi cuối cùng.

Ngày 18/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa. Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa có đoạn: “Việt Minh là cơ sở cho sự đoàn kết, phấn đấu của dân tộc ta trong lúc này. Hãy gia nhập Việt Minh, ủng hộ Việt Minh, làm cho Việt Minh rộng lớn mạnh mẽ”. Cuối Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”.

Nguyễn Văn Toàn