Vai trò của nông dân, doanh nghiệp trên hành trình bảo vệ môi trường
Giảm phát thải mê-tan không chỉ là yêu cầu từ các cam kết quốc tế mà còn mở ra cơ hội chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng cuộc sống của người dân.
Giải pháp kỹ thuật và chuyển đổi canh tác
Bà Nguyễn Thị Hà, nông dân xã Kiều Phú, Hà Nội sau khi được tham gia Hội nghị tuyên truyền, tập huấn bảo vệ môi trường nông thôn chia sẻ: trước đây, cứ xong vụ thu hoạch là nhà nào cũng vội vã châm lửa đốt rơm rạ cho quang ruộng để kịp làm đất vụ sau. Khói bay khắp làng, cay hết mắt mũi. Dẫu biết là độc hại nhưng không đốt thì nông dân cũng chả có cách nào. Khi được tham gia các lớp tập huấn, được hướng dẫn cách dùng chế phẩm sinh học ủ rơm thành phân bón, tôi và bà con mới nhận ra mình đã lãng phí tiền của bấy lâu nay. Giờ đây, rơm rạ được thu gom lại ủ làm phân bón hữu cơ, bón cho rau và hoa màu, đất đai xốp hẳn, cây trồng ít sâu bệnh, mà chi phí mua phân bón hóa học giảm rõ rệt. Làng xóm lại sạch quang, bầu không khí trong lành, ai cũng phấn khởi.
Thực tế, nhiều năm qua, người nông dân đã phát huy tốt hơn vai trò là chủ thể, tham gia hợp tác, liên kết, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển kinh tế, khôi phục và phát triển ngành nghề nông thôn. Chính người nông dân cũng đang tự thay đổi, từ đó chủ động chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng nông nghiệp phát thải thấp, gắn bảo vệ môi trường với nâng cao hiệu quả kinh tế đang dần phổ biến. Còn doanh nghiệp, không chỉ cần thay đổi công nghệ mà còn phải chuyển đổi tư duy sản xuất - kinh doanh theo hướng kinh tế tuần hoàn.
Các mô hình sản xuất nông nghiệp sinh thái là những giải pháp chính để thâm canh nông nghiệp dài hạn, hạn chế chuyển đổi đất rừng sang đất trồng trọt, hạn chế sử dụng vật tư, giảm thiểu khí thải nhà kính từ nông nghiệp và góp phần tăng lưu trữ các-bon thông qua tăng mùn trong đất, tăng thảm thực vật che phủ ở các diện tích bỏ hoang hóa tạm thời.
Ông Đào Xuân Hoàng - Ủy ban Phát triển bền vững Tập đoàn TH chia sẻ, Tập đoàn TH đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp xanh trong toàn chuỗi sản xuất, từ nông trại chăn nuôi đến nhà máy chế biến và hệ thống phân phối. Chất thải chăn nuôi được thu gom và xử lý bằng công nghệ sinh học hiện đại, chuyển hóa thành phân compost phục vụ cho các vùng trồng nguyên liệu. Việc này không chỉ giúp giảm phát thải khí mê-tan mà còn góp phần cải thiện chất lượng đất nông nghiệp. Nền khu chuồng trong các trang trại được tái sử dụng bằng công nghệ BRU của Đức, giúp làm khô, khử mùi và hạn chế tối đa lượng khí nhà kính phát sinh trong quá trình chăn nuôi.
Song song với đó, tập đoàn TH đã đầu tư hệ thống điện mặt trời trên mái trang trại và nhà xưởng, kết hợp vận hành lò hơi sinh khối sử dụng phế phẩm nông nghiệp thay thế nhiên liệu hóa thạch. Nhờ đó, lượng phát thải khí nhà kính trong chuỗi sản xuất đã giảm hơn 85% so với trước.
Công ty cổ phần Phúc Sinh cũng đã xác định xây dựng một ngành hàng phát triển bền vững nên trước khi quy định của EU ra đời, doanh nghiệp đã bắt tay vào sản xuất cà phê bền vững từ năm 2012. Công ty liên tục mở rộng diện tích sản xuất hàng năm với mục tiêu đạt tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững.
Về vấn đề này, ông Nguyễn Duy Tâm, Giám đốc Phát triển bền vững - Công ty cổ phần Phúc Sinh cho biết, cuối năm 2024, doanh nghiệp sẽ có những diện tích đầu tiên đạt tiêu chuẩn này và khi đó sẽ đáp ứng yêu cầu quy định EUDR của EU. “Phúc Sinh muốn khẳng định với thế giới rằng, Việt Nam đã hướng tới sản xuất bền vững từ nhiều năm nay, chứ không phải chỉ khi thị trường nhập khẩu đưa ra các quy định thì các doanh nghiệp mới đi thực hiện”, ông Nguyễn Duy Tâm nói.
Ông Nguyễn Duy Tâm cũng chia sẻ, doanh nghiệp đang cùng các đơn vị tư vấn kiểm đếm lượng carbon phát thải để tìm ra các khâu trong chuỗi sản xuất từ trang trại, nhà máy đến phân phối, khâu nào còn phát thải cao. Từ đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các giải pháp giảm phát thải.
Chẳng hạn, trong khâu sản xuất ở nông trại, những diện tích áp dụng sản xuất bền vững đa số sử dụng phân bón hữu cơ, lượng phát thải sẽ thấp. Song những hộ còn sử dụng nhiều phân bón vô cơ, từ các mô hình mẫu, doanh nghiệp sẽ từng bước hướng dẫn nông dân giảm lượng phân bón này. Để tạo động lực cho nông dân, sản phẩm áp dụng sản xuất bền vững sẽ được doanh nghiệp thu mua với giá cao hơn thị trường.
Chuyển đổi xanh trong chăn nuôi, trồng trọt không chỉ là yêu cầu phát triển, mà còn là điều kiện để hội nhập quốc tế. Các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP đều quy định nghiêm ngặt về tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc và phúc lợi động vật. Do đó, chỉ những sản phẩm đạt chứng nhận “xanh” mới đủ điều kiện tiếp cận các thị trường cao cấp. Việc ứng dụng KH&CN, nhất là các công nghệ số, công nghệ sinh học và năng lượng tái tạo, sẽ giúp ngành chăn nuôi Việt Nam đáp ứng các chuẩn mực này.
Nông sản có trách nhiệm với khí hậu
Chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp PGS.TS Mai Văn Trịnh đã chia sẻ, trong tương lai và cả hiện nay, việc giảm phát thải không còn là lựa chọn mà sẽ trở thành yêu cầu bắt buộc khi nhiều thị trường xuất khẩu đang áp dụng các rào cản carbon đối với hàng hóa nhập khẩu.
Đơn cử như ngành cà phê, nhiều quốc gia hiện yêu cầu doanh nghiệp xuất khẩu phải giảm dấu vết carbon trong sản phẩm. Nếu trước đây lượng phát thải được chấp nhận ở mức 1 kg CO2 cho mỗi kg sản phẩm thì nay nhiều thị trường yêu cầu giảm xuống còn khoảng 0,6 - 0,8 kg CO2.
Việt Nam đã đề ra lộ trình giảm phát thải với các mốc quan trọng. Đến năm 2025, tổng lượng phát thải khí metan không vượt quá 96,4 triệu tấn, trong đó phát thải trong chăn nuôi không vượt quá 16,8 triệu tấn. Tiếp theo đó, vào năm 2030, tổng lượng phát thải khí metan sẽ được giảm xuống không vượt quá 77,9 triệu tấn, với lượng phát thải trong chăn nuôi được hạn chế ở mức tối đa 15,2 triệu tấn.
Bên cạnh đó, chính phủ cũng đang khuyến khích các giải pháp đổi mới trong chế độ ăn của vật nuôi. Chẳng hạn như giảm protein trong thức ăn, nhằm giảm thiểu lượng khí thải amoniac và N2O.
Còn tại Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050” cũng chỉ ra từng bước đi nhằm đưa ngành trồng trọt phát triển theo hướng sinh thái, hiện đại, phát thải thấp, đồng thời khẳng định vai trò tiên phong của Việt Nam trong khu vực về nông sản có trách nhiệm với khí hậu.
Theo đề án, đến năm 2035, ngành trồng trọt phải giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính so với năm 2020. Mỗi tỉnh, thành triển khai ít nhất 1-2 mô hình sản xuất giảm phát thải có khả năng nhân rộng, thí điểm tối thiểu 15 mô hình phục vụ phát triển tín chỉ carbon, ban hành ít nhất 5 gói kỹ thuật áp dụng cho cây trồng chủ lực và xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải kết nối đồng bộ với hệ thống quốc gia. Tầm nhìn đến năm 2050, toàn ngành hướng tới 100% diện tích cây trồng chủ lực áp dụng quy trình canh tác bền vững, phổ cập nhãn hiệu “Phát thải thấp” và hình thành cơ sở dữ liệu số hóa toàn diện.
Đề án nhấn mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với từng vùng sinh thái, ưu tiên cây lâu năm có giá trị kinh tế cao, có khả năng hấp thụ carbon. Trên những diện tích lúa nước kém hiệu quả, các địa phương sẽ chuyển đổi sang cây trồng cạn hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản. Song song với đó là áp dụng các gói kỹ thuật giảm phát thải như quản lý nước tưới hợp lý, hệ thống thâm canh cải tiến (SRI), tăng cường sử dụng phân hữu cơ, phân sinh học, đồng thời hạn chế thuốc bảo vệ thực vật hóa học bằng các giải pháp sinh học. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và cảm biến thông minh sẽ được ứng dụng để giám sát độ ẩm, điều tiết nước – phân bón – thuốc và quản lý phát thải.
Để đạt mục tiêu giảm phát thải mê-tan vào năm 2030, theo các chuyên gia, Việt Nam cần kiên trì thực hiện đúng lộ trình đã đề ra, từ mở rộng diện tích lúa áp dụng tưới khô xen kẽ, cải thiện khẩu phần thức ăn cho gia súc đến xử lý chất thải và phụ phẩm nông nghiệp.
Việt Nam đã phối hợp với Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) và Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) để triển khai các dự án về chăn nuôi carbon thấp, quản lý chất thải và sử dụng năng lượng tái tạo.