Về miền Tây thăm Tháp Vĩnh Hưng
Sau khi được công nhận di tích quốc gia đặc biệt, di tích khảo cổ Vĩnh Hưng được tỉnh Bạc Liêu mở rộng, bảo tồn và phát huy hiệu quả giá trị của di sản, góp phần đưa di tích trở thành sản phẩm văn hóa – du lịch hấp dẫn và thu hút đông đảo du khách tham quan, khám phá.

Tháp Vĩnh Hưng (nằm ở ấp Trung Hưng 1B, xã Vĩnh Hưng A, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu) là ngôi tháp có bề dày lịch sử lâu đời nhưng mãi đến những năm đầu thập niên của thế kỷ XX, các nhà khoa học mới biết đến và bắt đầu nghiên cứu tìm hiểu. Tại đây, các nhà khảo cổ học đã khai quật được nhiều hiện vật hết sức quý giá với nhiều tượng đá, đồng, gốm, đá quý… đánh dấu một giai đoạn tồn tại và phát triển khá dài (từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIII sau Công nguyên). Với giá trị kiến trúc này, năm 1992, Tháp Vĩnh Hưng được xếp hạng là Di tích cấp Quốc gia. Gần đây, ngày 18/7/2024, Tháp Vĩnh Hưng đã trở thành Di tích Quốc gia Đặc biệt.
Giữa mênh mông tứ bề cánh đồng lúa ngút ngàn tầm mắt, Tháp Vĩnh Hưng nổi bật trên nền màu xanh của cây cỏ và hoa lá. Tháp Vĩnh Hưng là một quần thể kiến trúc mang vẻ ngoài dung dị nhưng vẫn giữ vẻ uy nghiêm của một công trình văn hóa tín ngưỡng độc đáo. Trong không gian thanh bình yên ả, Tháp Vĩnh Hưng khơi gợi về thời đại lịch sử xa xưa.
Theo các tài liệu ghi chép, các nhà khảo cổ học cho rằng, ông Lunet de Lajonquière, một học giả người Pháp là người đầu tiên phát hiện ra Tháp Vĩnh Hưng và công bố với tên gọi khác là Tháp Trà Long vào năm 1911. Tiếp theo vào năm 1917, Henri Parmentier (nhà khảo cổ học người Pháp) đến khảo sát khu vực này và công bố kết quả trong tập san của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (BEFEO) với tên gọi mới - Tháp Lục Hiền.


Đến năm 1990, các nhà khảo cổ thuộc Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ) phối hợp với Bảo tàng tỉnh Minh Hải (nay là tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau) đến khảo sát và đào một hố thám sát, phát hiện một số hiện vật như đầu tượng thần, bàn nghiền, Linga-Yoni... Trên cơ sở đó, di tích tháp bước đầu được xác định có niên đại từ thế kỷ VII – VIII sau Công nguyên, thuộc giai đoạn phát triển cuối của nền văn hóa Óc Eo.
Tháp Vĩnh Hưng có diện tích bình diện khá lớn (chiều Đông-Tây rộng 191m; chiều Bắc-Nam dài 6,9m) và được xây cao hơn 10m, với các bức tường gạch khá dày, tạo ra một tải trọng hàng vạn tấn sau khi xây dựng xong. Tháp được xây dựng trên nền đất yếu và việc sử dụng móng dàn trải trên một không gian rộng để chống sụp lún là giải pháp hết sức thông minh của cư dân xưa. Hiệu quả là sau hơn một ngàn năm tồn tại, độ lún của tháp không đáng kể. Phía bên trong lòng Tháp Vĩnh Hưng thờ biểu tượng Linga-Yoni, đây là nguồn gốc của mọi sự sáng tạo trong tín ngưỡng phồn thực của cư dân Óc Eo.

Tương truyền, trước khi hành lễ tế thần, chủ lễ sẽ tắm nước thơm lên biểu tượng Linga-Yoni. Nước thơm theo hệ thống đường dẫn ra bên hông tháp chứa tại hai giếng thiêng. Cư dân Óc Eo lấy nước thiêng khoác lên người để mong đạt nhiều sức khỏe, vạn vật sinh sôi, thịnh vượng, con cháu đầy đàn.
Hiện có 5 hiện vật là bảo vật quốc gia được tìm thấy trong các đợt khai quật khảo cổ ở tháp Vĩnh Hưng gồm tượng Nữ thần Laksmi, tượng Thần Sada Shiva, đầu tượng Thần Shiva, tượng Nam thần và phù điêu Nữ thần Uma tại tháp Vĩnh Hưng, các nhà khảo cổ học đã khai quật được nhiều hiện vật hết sức quý giá với nhiều tượng đá, đồng, gốm, đá quý… đánh dấu một giai đoạn tồn tại và phát triển khá dài (từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIII sau Công nguyên).