5 nhóm quan điểm bao trùm toàn diện về phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới
Ngày 25/2, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị. Tại hội nghị, ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương truyền đạt chuyên đề: Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước.
Ông Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Nghị quyết 79 đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo mang tính hệ thống, bao trùm và toàn diện về phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, trong đó có thể khái quát những điểm mới và cách tiếp cận đột phá về tư duy lý luận cũng như chỉ đạo thực tiễn.
Thứ nhất
Thứ hai
Thứ ba
Thứ tư
Thứ năm
Về mục tiêu và tầm nhìn phát triển kinh tế Nhà nước, theo ông Nguyễn Thanh Nghị, Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó, mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.
Bên cạnh đó, ông Nguyễn Thanh Nghị cũng khái quát nêu lên một số chỉ tiêu như:
Về doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
Về tổ chức tín dụng nhà nước
Ban hành cơ chế vượt trội và triển khai các khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để thúc đẩy phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế không gian tầm thấp, công nghiệp hàng không, vũ trụ. Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên số, tài nguyên viễn thông để quản lý, phát triển thị trường dữ liệu, sàn giao dịch dữ liệu và kinh tế dữ liệu, đưa tài nguyên số và dữ liệu quốc gia thực sự trở thành nguồn lực chiến lược.
Đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục sắp xếp, tinh gọn hệ thống quỹ, giảm đầu mối, tăng quy mô, không thành lập quỹ mới khi không cần thiết, sáp nhập, giải thể quỹ hoạt động kém hiệu quả, đẩy mạnh cơ chế ủy thác cho các tổ chức tài chính chuyên nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết đã đề ra 17 nhóm nhiệm vụ giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững; Đổi mới nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại vốn nhà nước và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.
Đặc biệt, Nghị quyết đã định hướng rõ đầu tư phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế, như quốc phòng an ninh, năng lượng, vận tải, logistics, tài chính ngân hàng, khoa học công nghệ, điện tử viễn thông, hạ tầng số, khoáng sản chiến lược, hóa chất, xây dựng. Ban hành chính sách tạo động lực cho doanh nghiệp nhà nước tăng quy mô vốn điều lệ, bảo đảm đủ vốn, hỗ trợ lãi suất, cấp đủ tín dụng đối với các dự án, công trình trọng điểm quốc gia.
Khuyến khích doanh nghiệp nhà nước đẩy mạnh, tiên phong trong hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đầu tư liên kết làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính. Có cơ chế cho phép hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm.
Đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở tổng thể mục tiêu, nhiệm vụ được giao, hạch toán, phản ánh đầy đủ lợi thế, các nguồn lực của nhà nước phù hợp với thông lệ quốc tế, hạch toán tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận.
Về thoái vốn nhà nước, cần quán triệt điểm mới của Nghị quyết là: Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối thì có cơ chế, lộ trình phù hợp nhằm sáp nhập vào các doanh nghiệp nhà nước hoặc chuyển giao cho các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vốn nhà nước ở trung ương hoặc địa phương, đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả, theo nguyên tắc "Nhà nước làm những gì tư nhân không làm hoặc không có khả năng làm, những gì tư nhân làm được thì Nhà nước phải làm tốt hơn". Các thương hiệu quốc gia có uy tín tiếp tục đầu tư để hoạt động hiệu quả hơn. Tái cơ cấu Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, hướng tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia.
Tổ chức sắp xếp lại mạng lưới ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước. Tăng vốn điều lệ cần xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực tài chính, tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động.
Nghị quyết nhấn mạnh chuyển các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao sang thực hiện cơ chế thị trường, mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công. Chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong những ngành, lĩnh vực phù hợp.