Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Át tiếng bom rền

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Át tiếng bom rền

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Vào giữa những ngày đông 1972, nhạc sĩ Phạm Tuyên khi đó đang làm việc tại Đài tiếng nói Việt Nam – một trong những mục tiêu đánh phá của bom đạn Mỹ. Ông kể về những bài hát ra đời ngay tại chỗ và phát trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam như một biểu tượng cho tâm hồn và ý chí Hà Nội bất diệt:

Át tiếng bom rền

Chiếc loa 500W phục vụ công tác tuyên truyền của
Đài tiếng nói Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

“Trong chiến tranh, làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam là vô cùng quan trọng, thông tin cho toàn thế giới, không chỉ phát tin tức, mà còn các chương trình nghệ thuật. Hồi đó, Đài cũng là kênh duy nhất chuyển tải được âm thanh. Người lính, người dân khi đó chủ yếu thuộc bài hát qua Đài Tiếng nói Việt Nam. Vì thế dễ hiểu những trọng điểm Mỹ muốn phá hủy là các trạm phát sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, để không có thông tin nào phát được ra với nhân dân, với toàn thế giới nữa, và như thế thất bại của ta sẽ trông thấy rõ.

Dù bom đạn ác liệt đến đâu chúng tôi vẫn kiên quyết bám trụ cơ quan, hoàn thành nhiệm vụ của mình. Chúng tôi ý thức rất rõ về tác dụng của lời thơ tiếng nhạc trên làn sóng trong những ngày cuối năm 1972 ấy đối với đồng bào cả nước, nhất là chiến sĩ và đồng bào lớn ở tiền tuyến lớn miền Nam. Bên cạnh những bài hát động viên các lực lượng ở miền Bắc, chúng tôi còn có hẳn chuyên mục “Tiếng hát gửi về Nam”, nói lên tình cảm cả nước. Có bất cứ bài nào của miền Nam gửi ra đều được dàn dựng… Các bài của nhạc sĩ Trần Hoàn lúc đó ở Bình Trị Thiên gửi ra, rồi của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước gửi ra được dựng ngay, đưa lên làn sóng, qua đó âm nhạc đến với mọi người nhanh hơn. Cũng chính vì đã sống trong những ngày tháng khốc liệt đó, mà rất nhiều nhạc sĩ đã viết được những ca khúc rất hào sảng, như nhạc sĩ Phan Nhân với “Hà Nội niềm tin và hi vọng” với những giai điệu rất tuyệt vời: “Hà Nội đó niềm tin yêu hy vọng, của núi sông hôm nay và mai sau/ Chân ta bước lòng ung dung tự hào, kìa nòng pháo vẫn vươn lên trời cao (…) Hà Nội chúng ta vọng lời thiết tha, át tiếng bom rền”.

Trong trường hợp của tôi cũng có cái duyên nợ. Trong mấy chục năm tôi làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tố chất nhà báo cũng có ở trong cái chức trách văn nghệ sĩ của mình. Vì ở Đài, mọi diễn biến của xã hội, thăng trầm của đất nước cũng đều có tác động đến mình, tự nhiên dù muốn hay không, khi mình nhập vào cuộc sống của nhân dân sẽ tạo cảm hứng cho mình viết những tác phẩm âm nhạc. Khi tôi bước vào cuộc đời sáng tác trên mặt trận văn nghệ, về mặt tình cảm mà nói, tôi chỉ sáng tác khi nào tình cảm của người viết đồng cảm với mọi người thì sẽ có sức lan tỏa. Hai bài hát ra đời trong 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không, tôi viết lúc ấy là để nói lên tình cảm của mình là chính, nhưng đồng thời nó cũng rất hòa nhập với tình cảm của người dân Hà Nội lúc ấy.

Có một thực tế, người Hà Nội lúc đó rất kiên định, ứng xử với nhau có tình có nghĩa, rất quý mến mảnh đất này. Ít nơi nào trên thế giới, dưới bom đạn giặc Mỹ mà lại bình tĩnh được như vậy. Đi qua Bạch Mai, qua phố Khâm Thiên, các bà các mẹ chít khăn tang vẫn dọn dẹp nhà cửa, thu dọn các đống gạch vụn trên phố… Những gia đình còn lại ở đó không khóa cửa, người dân động viên nhau vượt qua khó khăn… Nhưng cuộc chiến thắng 12 ngày đêm này là cuộc chiến thắng của nhân dân. Bên cạnh những công lao rất vĩ đại của phòng không, không quân, dân quân tự vệ, thì có sức mạnh của nhân dân.

Ngày 19/12/1972, Mỹ bắt đầu ném bom. Trưa hôm đó, địch lại ném bom trạm phát sóng ở Bạch Mai và khu tập thể Đại La của chúng tôi ở. Sáng sớm ngày 22/4, B52 lại ném bom rải thảm, lần này chúng đã biến khu tập thể của chúng tôi thành một đống gạch vụn. Vợ con tôi lúc đó đã đi sơ tán rồi. Nhà của tôi cũng dính bom tan tành, cây đàn piano vỡ tung, tủ sách cũng cháy nham nhở, chỉ thấy còn một chiếc cặp sách rớt lại. Lúc đó tự dưng trong tôi trào dâng một cảm giác rất lạ: vừa đau thương, xót xa nhưng lại cũng rất đỗi tự hào. Tôi không còn nghĩ đến những mất mát riêng tư nữa. Đêm hôm ấy, trong một đợt báo động kéo dài, ngồi trong căn hầm ở ngay khu vực trọng điểm, tôi đã viết bài hát “Hà Nội những đêm không ngủ” ghi lại hình ảnh của mình trong những ngày đầu của đợt tập kích của địch, thầm gửi tình yêu thương nhớ nhung đến vợ con lúc đó đang ở nơi sơ tán đêm đêm vẫn nhìn về vầng lửa đạn đang bao trùm cả thủ đô.

Đêm 26/12, Mỹ lại ném bom dữ dội ở Hà Nội, buổi sáng giao ban của Đài Tiếng nói Việt Nam ngày hôm sau (27/12), đồng chí Trần Lâm đã thông báo Quân ủy Trung ương đã có ý kiến chỉ đạo là phải quyết tâm dành một trận Điện Biên Phủ trên không. Nghe từ “Điện Biên Phủ” lúc đó tôi thấy nó có một ý nghĩa rất khác, có sức lay động kì lạ. Đêm hôm ấy tôi đã ngồi trong hầm ở 58 Quán Sứ viết bài “Hà Nội – Điện Biên Phủ” với âm điệu hoàn toàn không du dương như bài “Hà Nội những đêm không ngủ” tôi đã viết mấy ngày trước đó, mà rất quyết liệt: “Bê Năm hai tan xác cháy sáng bầu trời/ Hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngời/ Rồng ta lao vút tới vây bắt lũ hung thần khát máu/ Ý chí chúng ta đây mạnh hơn ngàn lần họng súng quân thù/ Một Điện Biên nay sẽ vùi mộng xâm lăng…/ Hà Nội đây! Đế quốc Mỹ có nghe chăng câu trả lời của Hà Nội chúng ta/ Đâu chỉ vì non nước này phất ngọn cờ sao chiến đấu”...

Tôi rất cảm động khi thấy bản nhạc đã được in trên báo Nhân dân ngày 29/12, giữa lúc địch còn chưa chấm dứt cuộc leo thang đánh phá, với nét chữ chép tay rất đẹp của nhạc sĩ Phan Nhân. Những ngày sau đó, ca khúc “Hà Nội – Điện Biên Phủ” được các đoàn văn công, các đoàn dân quân tự vệ hát rất hào hùng. Sau này, tôi có nghe nhạc sĩ, nhà báo Nguyễn Thụy Kha kể lại, anh em ở Quảng Trị đã khóc vì sung sướng, xúc động khi nghe bài hát này. Mấy nhà báo trong TP HCM ra phỏng vấn tôi có nói là hồi đó, đêm 29/12/1972 nghe bài hát trên sóng phát thanh đã biết là Hà Nội sẽ chiến thắng.”

Nhóm PV