Băn khoăn mỗi ngành chỉ một phương thức tuyển sinh
Đề xuất lộ trình giảm từ 3 phương thức tuyển sinh năm 2027 xuống còn 1 phương thức từ năm 2028 đang đặt ra những băn khoăn về cơ hội xét tuyển của thí sinh và nguồn tuyển của các trường đại học.
Cần tính toán kỹ lưỡng
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều các thông tư quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh, chương trình đào tạo, tuyển sinh và đào tạo cao đẳng ngành Giáo dục mầm non, đại học và sau đại học. Thời gian lấy ý kiến dự thảo đến hết ngày 23/9/2026.
Một trong những nội dung đáng chú ý tại dự thảo Thông tư là đề xuất quy định: “Cơ sở đào tạo sử dụng tối đa 5 phương thức tuyển sinh và mỗi ngành đào tạo, chương trình đào tạo sử dụng 3 phương thức tuyển sinh áp dụng từ năm 2027 và 1 phương thức áp dụng từ năm 2028, không bao gồm phương thức xét tuyển thẳng, xét tuyển đối tượng cử tuyển”.

Lộ trình từ 3 phương thức năm 2027 xuống còn 1 phương thức từ năm 2028 đang khiến phụ huynh, học sinh lo ngại cơ hội xét tuyển có thể bị thu hẹp.
Chị Hoàng Diệu Thuý, có con đang học lớp 11, Trường THPT Cao Bá Quát (Hà Nội) cho rằng, Bộ GDĐT nên duy trì 3 phương thức như lộ trình áp dụng từ năm 2027. Theo chị, nhiều học sinh đã chuẩn bị theo những hướng xét tuyển khác nhau, vì vậy nếu tiếp tục có 3 phương thức, các em sẽ có thêm cơ hội lựa chọn cách thể hiện năng lực phù hợp với mình.
Theo chị Thuý, có học sinh học tốt và phát huy được trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, nhưng cũng có em có kết quả học tập ổn định hoặc làm tốt các bài thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy. Nếu chỉ còn một phương thức, những học sinh không có lợi thế ở hình thức đó sẽ bị hạn chế cơ hội, dù năng lực và quá trình học tập của các em vẫn đáp ứng yêu cầu của ngành.
Chị Nguyễn Hoài Phương, phụ huynh có con chuẩn bị xét tuyển đại học cho rằng, việc siết phương thức xét tuyển cần tính toán kỹ lưỡng. Điều phụ huynh quan tâm không chỉ là số lượng phương thức mà còn là tính ổn định của chính sách tuyển sinh.
Theo chị Phương, học sinh cần có một lộ trình rõ ràng và ổn định để chủ động chuẩn bị từ sớm, thay vì đến gần thời điểm tuyển sinh lại phải thay đổi cách thức ôn tập, thi cử.
Ông Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GDĐT) cho rằng, giảm phương thức là để mở rộng cơ hội bình đẳng, không phải giảm cơ hội tiếp cận. Mỗi phương thức phải bảo đảm mọi thí sinh đủ điều kiện đều có thể tham gia, công bố rõ tiêu chí và sử dụng một thang điểm chung. Cơ sở đào tạo có trách nhiệm lựa chọn phương thức phù hợp với yêu cầu đầu vào của chương trình; kết quả thi riêng, học bạ hoặc chứng chỉ vẫn có thể được sử dụng khi được cấu trúc minh bạch trong phương thức đã công bố.
Rủi ro cho cả cơ sở đào tạo và thí sinh
Về phía các trường đại học, nhiều trường cho rằng, nếu mỗi ngành chỉ sử dụng một phương thức xét tuyển sẽ đẩy rủi ro về phía thí sinh.
TS. Nguyễn Thị Thu Hà - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thăng Long cho rằng, việc giảm số lượng phương thức tuyển sinh là hợp lý, nhằm hạn chế tình trạng một chương trình đào tạo sử dụng quá nhiều phương thức, gây khó khăn trong việc bảo đảm chất lượng đầu vào.
Tuy nhiên, TS Nguyễn Thị Thu Hà cũng cho rằng, nếu mỗi ngành chỉ được sử dụng một phương thức xét tuyển sẽ tạo thêm khó khăn cho cả cơ sở đào tạo và thí sinh.
Hiện thí sinh có thể lựa chọn nhiều phương thức xét tuyển đại học. Việc thu hẹp còn một phương thức có thể làm giảm sự đa dạng trong lựa chọn và cơ hội tiếp cận đại học.
Theo bà Hà, việc chỉ duy trì một phương thức tuyển sinh cho mỗi ngành có thể phát sinh những bài toán khác nhau đối với các trường. Chẳng hạn, với phương thức dựa trên kết quả kỳ thi đánh giá năng lực, khi số lượng thí sinh tham dự chưa lớn, nhiều trường có thể gặp khó trong việc bảo đảm nguồn tuyển. Trong khi đó, nếu sử dụng học bạ là phương thức duy nhất để tuyển sinh, các trường lại phải đối mặt với yêu cầu bảo đảm chất lượng đầu vào.
TS Nguyễn Thị Thu Hà đề xuất nên sử dụng tối thiểu 2 phương thức tuyển sinh đối với mỗi ngành, chương trình đào tạo.
Theo bà Hà, việc duy trình tối thiểu 2 phương thức giúp cân bằng giữa yêu cầu tuyển đủ nguồn và bảo đảm chất lượng, đồng thời tạo thêm cơ hội để thí sinh lựa chọn phương thức phù hợp với năng lực của mình.
Trước những đề xuất thay đổi về quy định tuyển sinh, TS Hoàng Phương, Trưởng Chương trình Tiếp thị kỹ thuật số và Truyền thông xã hội, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) cho rằng, học sinh cần xác định rõ ngành học mục tiêu ngay từ lớp 10 hoặc 11.
Khi bị giới hạn phương thức, các trường đại học top đầu sẽ ưu tiên sử dụng kết quả từ các kỳ thi đánh giá năng lực hoặc đánh giá tư duy để làm thước đo phân hóa thí sinh, thay vì chỉ dựa vào kỳ thi tốt nghiệp THPT.

Thế nên, bà Phương cho rằng, chiến lược học tập của học cần thay đổi từ việc học thuộc lòng, luyện mẹo giải đề nhanh theo khối sang rèn luyện tư duy logic, khả năng đọc hiểu văn bản dài, xử lý số liệu và giải quyết vấn đề đa nền tảng.
“Khi đã xác định được ngành và trường mục tiêu, học sinh cần dồn 100% nỗ lực vào yêu cầu của trường đó. Học sinh cần khoanh vùng những mảng kiến thức còn hổng, thường là các môn không thuộc khối thi truyền thống thế mạnh, để bồi đắp từ từ”, TS Hoàng Phương lưu ý.