Bản lĩnh người Bí thư Tỉnh ủy
Nhà báo kỳ cựu Đặng Minh Phương, sinh năm 1929, quê Phú Yên. Cuộc đời làm báo của ông thời chống Mỹ chủ yếu ở chiến trường ác liệt Khu V, ngày đó ông là Tổng biên tập tờ Cờ giải phóng của khu ủy Khu V.

Nước nhà thống nhất ông trở lại báo Nhân Dân, nhiều năm làm đại diện của báo Đảng tại miền Trung. Nay tuy đã ở tuổi đại thọ, ông còn khỏe, đặc biệt trí nhớ vẫn mẫn tiệp. Ông bảo với người viết bài này: Có câu “Quảng Nam hay cãi, một người con Đất Quảng gây ấn tượng mạnh với đời làm báo của tôi trong thời chiến cũng như thời bình, là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà Hồ Nghinh”. Dưới đây là câu chuyện ông kể...
Giai đoạn 1968-1972 địch đánh phá ngày càng ác liệt, Khu ủy Khu V phải di chuyển liên tục, có khi một tháng đến 4-5 lần, làm nhà lá chưa kịp khô đã phải di dời nơi khác, tòa soạn gọn nhẹ của báo Cờ Giải Phóng do tôi phụ trách cũng ở gần cơ quan Khu ủy để nắm đường hướng tuyên truyền. Những nơi Khu ủy trú tạm: Tây Giang, Phước Sơn (Quảng Nam); Dắk Glei (Kon Tum); Sơn Hà, Trà Bồng (Quảng Ngãi) và trước ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là ở Trà My (Quảng Nam). Quảng Nam chính là quê hương của anh Hồ Nghinh. Anh xuất thân từ một gia đình nho học truyền thống. Ông nội trong Đội Ngự lâm quân của Vua Hàm Nghi. Cha đỗ cử nhân, làm chức quan nhỏ, huấn đạo ở huyện Tiên Phước, rồi Quế Sơn. Năm 1930, Hồ Nghinh mới 17 tuổi đang học trường Quốc học Huế, hưởng ứng phong trào cách mạng, tham gia tổ chức quần chúng của Đảng bị Pháp bắt đi tù 2 năm. Vốn tư chất thông minh, trong tù, anh lại tranh thủ học thêm tiếng Pháp, Anh, Trung Quốc, học chỉ để đọc sách, sau này ra tù nhờ đọc nhiều, hiểu sâu anh luôn được bạn bè coi là người thông kim bác cổ. Tôi được gặp anh Hồ Nghinh lần đầu vào năm 1969 trong một cuộc họp ở căn cứ, lúc đó anh là thường vụ khu ủy, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà (gồm Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng). Đó là một người dáng tầm thước, khuôn mặt vuông vức, nụ cười hiền lành, phúc hậu giọng nói nhỏ nhẹ, tác phong nhanh nhẹn. Anh hơn tôi đến 15 tuổi và hôm ấy anh được triệu tập về căn cứ họp chớp nhoáng rồi đi ngay. Với anh, lúc đó tôi chỉ “kiến nhi viễn chi”. Nhưng những chuyện mọi người trong căn cứ truyền tụng về anh, về bản lĩnh của người bí thư tỉnh ủy dũng cảm, kiên cường bám dân, bám đất thì ai cũng hết sức khâm phục!
Có câu chuyện này của anh Phan Duy Nhân, tức Nguyễn Chính cán bộ chính trị Thành ủy Đà Nẵng thời chống Mỹ (sau ngày nước nhà thống nhất, có thời kỳ anh là Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ). Anh Nhân kể: “Trước tổng tấn công Tết Mậu Thân (1968) khoảng 1 tháng, có cuộc họp của tỉnh ủy triển khai chủ trương phát động quần chúng nổi dậy trong nội thành để phối hợp với bộ đội chủ lực từ ngoài đánh vào. Địa điểm họp khá bất ngờ, một xóm nhỏ giữa đồng bên cạnh một ao sen, thuộc xã Điện Hồng sát nách Đà Nẵng. Bí thư Hồ Nghinh trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi vào thành trước, anh nói rõ và gọn trong vài câu, rồi anh nắm chặt hai vai tôi, nhìn thẳng vào mắt tôi, mỉm cười khích lệ. Tuổi anh gần gấp đôi tuổi tôi, anh thân thương như một người cha, người thầy và chính anh đã dìu dắt kết nạp tôi vào Đảng. Đột nhiên bằng tất cả lòng kính trọng và biết ơn, tôi lội xuống ao ngắt vội mấy bông hoa sen và hai tay nâng kính tặng anh (Có lẽ giữa chiến trường ác liệt, hiếm có tình huống nào “lãng mạn tiểu tư sản” kiểu như vậy chăng?). Anh xúc động ôm bó hoa vào ngực, đôi mắt chợt long lanh như có ngấn nước, nói: Mình cảm ơn Chính. Mình sẽ dâng cúng lên bàn thờ liệt sĩ. Em vào trước, anh vào sau, ta sẽ cố gắng có bó hoa chiến công để tặng đồng bào. Tôi đi được ít bữa thì anh cũng vào nội thành. Kết thúc chiến dịch, anh được một cơ sở cách mạng là thầy Trương Văn Thông, bằng chiếc xe Vespa luồn lách đưa anh qua trùng điệp quân thù thoát ra ngoài, tiếp tục chỉ đạo phong trào của Quảng Đà”.
Sau cuộc Tổng tiến công chiến trường Khu V càng trở nên ác liệt hơn. Địch thực hiện cùng một lúc việc ngăn chặn tiếp tế của miền Bắc thông qua các chiến dịch tìm diệt, như chiến dịch Đường 9-Nam Lào; trong các thôn ấp thì chúng tìm mọi cách đánh bật Đảng ra khỏi dân. Tỉnh ủy Quảng Đà, có chủ trương đưa bộ phận thường trực của Tỉnh ủy về đứng chân ngay giữa Gò Nổi (cũng thuộc Điện Hồng), là nơi đang bị đánh phá khốc liệt ngày đêm. Lúc đó có người không đồng tình, nếu đưa bộ phận đầu não của Đảng về đây quá phiêu lưu, lãnh đạo bị diệt thì phong trào cũng mất, chi bằng cứ ở núi chỉ đạo xuống đồng bằng sẽ an toàn hơn. Hồ Nghinh trả lời: Đúng là về đứng giữa nơi đang bị đánh phá dữ dội như vậy thì chưa chắc đã chỉ đạo được gì cụ thể đâu. Nhưng chỉ đạo quan trọng, hiệu quả nhất lúc này là sự có mặt của mình tại chỗ. Tôi là bí thư tỉnh ủy đứng ngay giữa Gò Nổi, ác liệt tới mấy cũng không bí thư huyện ủy nào dám bỏ huyện của mình mà chạy. Bí thư huyện ủy còn bám trụ trong huyện, thì không bí thư xã nào dám bỏ xã. Bí thư xã còn bám, sẽ không đảng viên nào bỏ dân ở từng thôn ấp. Đảng viên trong thôn ấp còn trụ lại thì dân sẽ trụ lại, địa bàn sẽ còn, phong trào sẽ còn. Đấy là việc quan trọng nhất cần làm lúc này. Nói là làm, Bí thư Hồ Nghinh đã bí mật về Gò Nổi cùng với bộ phận đầu não lãnh đạo tỉnh trong suốt thời kỳ thử thách ghê gớm đó. Quân dân Quảng Đà đã trụ vững trước mọi sự đánh phá ác liệt của kẻ thù.
Tôi còn được biết một câu chuyện khác, vào thời gian cuối của cuộc kháng chiến. Tên Lê Phước Lý, đứng đầu tổ chức Quốc dân đảng, có mối thù sâu với cộng sản. Hắn đã ngoài 60 tuổi, bị ta bắt lần này là lần thứ hai. Nghĩ chết là cái chắc, cùng đường cắn dậu, bị trói lật cánh khửu mồm hắn vẫn không ngớt chửi rủa cách mạng. Nhiều anh em căm lắm, muốn khử ngay. Nhưng anh Hồ Nghinh sau khi đã vạch mọi tội tên ác ôn trước mọi người, anh có một quyết định rất bất ngờ, ngay lúc đó phóng thích hắn. Khi nghe lệnh thả, tên ác ôn há hốc mồm kinh ngạc, hắn bỗng sụp xuống lạy như tế sao và khóc rưng rức như đứa trẻ. Nhiều đồng chí có mặt ở đấy cũng ngạc nhiên, tuy vẫn còn tỏ ý không đồng tình. Anh Hồ Nghinh nhìn mọi người, ôn tồn nói: Đúng là tội ác của tên Lý là tày đình. Nhưng hắn đã già. Hãy rộng lượng cho hắn được chết bằng cái chết già đang đến. Tính nhân văn trong con người của anh thật sâu sắc biết bao! Anh không muốn có dù là một vết nhơ có người thân là “Việt gian bị tử hình” cả với các đời con cháu hắn sau này.
Sau ngày nước nhà thống nhất, tôi làm đại diện báo Nhân Dân ở miền Trung mới có dịp được trực tiếp làm việc nhiều lần với Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng. Thời bình, anh Hồ Nghinh vẫn giữ được tác phong của thời chiến, giản dị, đi sâu, đi sát, lắng nghe ý kiến nhân dân và cán bộ cấp dưới. Ngay sau giải phóng anh có chủ trương di dời mồ mả ở các vùng đất mầu mỡ thuộc các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Hòa Vang, Đại Lộc... đưa lên chôn tập trung ở các vùng đất ven đồi cát, gò cao để giải phóng đồng ruộng. Đây là một chủ trương rất táo bạo, động đến một phong tục tập quán nhiều đời, nên lúc đầu có người phản đối, kể cả một số bậc lão thành, cán bộ đương chức trung, cao cấp. Bản thân tôi muốn viết bài tán thành, nhưng cũng sợ va chạm, nên nấn ná. Nhưng Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng, đứng đầu là Bí thư Hồ Nghinh đã làm cương quyết, sau khi giải thích, vận động để được sự đồng thuận nhất định của nhân dân, hàng nghìn mồ mả đã di dời ngay, giải phóng hàng trăm héc ta đất canh tác. Những sự phản đối cũng yếu dần và theo thời gian họ đều thấy việc di dời là hợp tình hợp lý. Đến tháng 4/1977, tôi mới có bài trên báo Nhân Dân “Một biện pháp giải phóng đồng ruộng”, chỉ là góp một tiếng nói muộn màng. Thời kỳ này ở Quảng Nam- Đà Nẵng còn có chủ trương làm đại công trình thủy lợi Phú Ninh thuộc huyện Tam Kỳ. Sau gần 10 năm xây dựng, khi hoàn thành công trình đã tưới nước cho 23 nghìn héc ta đồng ruộng, từ một vụ bấp bênh thành hai, ba vụ lúa, mầu chắc ăn. Nhiều người dân Tam Kỳ, Thăng Bình nói: Cần tạc tượng ông Hồ Nghinh đặt bên hồ Phú Ninh!
Anh Hồ Nghinh làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng liên tục trong 19 năm (1963-1982). Rồi Đại hội Đảng lần thứ IV anh trúng Trung ương, được điều ra Hà Nội làm Phó Ban kinh tế Trung ương(Trưởng ban là anh Nguyễn Lam, Bí thư Trung ương Đảng). Ngày đó, tôi được nghe ý kiến của một số người cho rằng “Hồ Nghinh là tay kinh tế thị trường”, ngầm ý anh hữu khuynh, đề cao kinh tế thị trường của tư bản. Rồi mọi việc ngày càng sáng tỏ, công cuộc mở cửa, đổi mới, đã đạt được nhiều thành tựu. Sinh thời,Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói về Phó ban Kinh tế Trung ương Hồ Nghinh: “Tôi thấy ở anh có một chính kiến, không rào đón. Anh rất ghét các loại cơ hội, bảo thủ và lý luận suông không gắn liền với thực tiễn cuộc sống của đất nước”. Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Bạch Đằng thì đánh giá: Hồ Nghinh là sĩ phu xứ Quảng.
Năm 2006, khi anh Hồ Nghinh đã nghỉ hưu, anh được Đảng, Nhà nước trao tặng phần thưởng cao quý nhất: Huân chương Sao Vàng. Anh mất ngày 16/3/2007, hưởng thọ 94 tuổi. Hiện một con đường của thành phố Đà Nẵng mang tên anh.