Báo Đại Đoàn Kết Dân tộc

Bàn Tài Đoàn: Thi sĩ độc đáo người Dao

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Bàn Tài Đoàn: Thi sĩ độc đáo người Dao

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Ngày 17-11 năm nay là tròn 8 năm ngày thi sĩ nổi tiếng dân tộc Dao Bàn Tài Đoàn về với thế giới bên kia. Ông mất năm 2007, khi đang sống cùng với con ở huyện Eakar (tỉnh Đắk Lắk), thọ 95 tuổi. Nhắc đến Bàn Tài Đoàn là nhớ tới một hồn thơ đằm thắm, gần gũi với thiên nhiên, nói lên tiếng nói của những đồng bào người Dao của vùng đất Nguyên Bình - Cao Bằng.

Nhà thơ Bàn Tài Đoàn

1. Vẫn còn nhớ, hôm đó tôi tìm đến huyện Nguyên Bình và hỏi đường vào nhà ông, nhiều người đã nhiệt tình chỉ dẫn. Có thể nói, kể từ khi xuất hiện Bàn Tài Đoàn, người Dao mới có nhà thơ của dân tộc mình. Vì vậy, ông chính là nhà thơ đầu tiên của dân tộc Dao ở Việt Nam.

Thơ ông được người Dao ở Nguyên Bình - quê hương ông - đón nhận nhiệt tình. Những người chưa biết chữ thì ông đọc cho họ nghe. Những bài thơ đầu tiên của Bàn Tài Đoàn đã cổ vũ mạnh mẽ người Dao đi theo cách mạng. Trong lời giới thiệu tập thơ in bằng hai ngôn ngữ Việt - Dao “Bó đuốc sáng” (NXB Văn hoá Dân tộc) có viết: “Cuộc đời của nhà thơ có thể tượng trưng cho sự thay đổi của dân tộc Dao, xưa kia quằn quại trong đói nghèo lạc hậu, bệnh tật. Từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, đời sống của dân tộc Dao trong đó có nhà thơ được no ấm, được học hành và có quyền bình đẳng cùng các dân tộc khác trên khắp mọi miền của đất nước Việt Nam. Ông đã làm thơ cả cuộc đời từ khi được giác ngộ Cách mạng. Ông vừa hoạt động cách mạng vừa sáng tác, làm thơ chính là để phục vụ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước”.

Nhà thơ Bàn Tài Đoàn tên thật là Bàn Tài Tuyên, sinh ngày 28-9-1913 tại bản Sí Kèng (xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình, Cao Bằng), trong một gia đình người Dao rất nghèo. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1942. Sau năm 1945, ông công tác tại phòng tuyên truyền Cục chính trị Bộ Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ năm 1951 đến khi nghỉ hưu ông đã từng giữ các chức vụ như: Phó giám đốc Sở Văn hoá; Phó Chủ tịch Hội văn nghệ Việt Bắc; Ủy viên UBTƯ MTTQ Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng văn học các dân tộc thiểu số. Ông được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất; được Bộ Lâm nghiệp tặng giải thưởng viết về trồng rừng, bảo vệ rừng. Năm 2001, ông nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1.

2. Lớn lên trong một gia đình nghèo (như ông đã viết trong thơ “chạy khắp núi rừng đi kiếm ăn”), nhưng Bàn Tài Tuyên sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập mặt trận Việt Minh với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Người trực tiếp dìu dắt, giác ngộ cho ông là đồng chí Văn - tức Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Với con mắt xanh của mình, Đại tướng đã sớm nhận ra năng khiếu bẩm sinh về văn thơ trong chàng trai người Dao Bàn Tài Tuyên nên đã giới thiệu với cơ quan văn hóa để bồi dưỡng trở thành cán bộ nòng cốt. Trong Hồi ký, Bàn Tài Đoàn viết: “Không có cách mạng, không có Đảng, không có Bàn Tài Đoàn và càng không có nhà thơ Bàn Tài Đoàn…”

Thuở nhỏ không được đi học nhưng Bàn Tài Đoàn lại bộc lộ rõ năng khiếu thơ ca. Ông làm thơ cùng với học chữ. Những bài thơ đầu tiên của ông được viết trên lá chuối, lấy dao làm bút, khắc lên để khô sẽ đọc được. Có thể nói, Bàn Tài Đoàn là một trong những nhà thơ người dân tộc thiểu số đầu tiên của nền thơ ca cách mạng Việt Nam.

Những vần thơ của ông đã ca ngợi về quê hương, con người cũng như giúp nhiều người ở các vùng đất khác hiểu hơn, yêu hơn về cộng đồng người Dao ở vùng đất giàu truyền thống cách mạng như Nguyên Bình.

Thơ ông trong sáng, hồn hậu như suy nghĩ thuỷ chung của người dân Nguyên Bình quê ông vậy: “Đất châu Nguyên Bình bao la rộng/ Ruộng đồng thì ít, núi nhiều thay/ Phía nam núi đất, rừng xanh biếc/ Phía bắc đá nhọn chọc trời mây…”. Đọc thơ ông, thấy quê hương hiện ra vừa thiêng liêng vừa gần gũi và chan chứa cảm xúc thông qua các biểu tượng gắn với vùng đất như ngọn núi, dòng suối… thậm chí cả từng bông hoa, từng tiếng chim, tiếng gà gáy vang vọng: “Núi rừng nghe lời ca tiếng hát/ Xuân về nở rộ hoa kim – anh/ Măng vầu, măng trúc cùng cao vút/ Như giáo, như gươm giữ rừng xanh…”. Không chỉ viết về thiên nhiên, Bàn Tài Đoàn còn có nhiều bài thơ viết về người dân tộc Dao: “Người Dao nghèo khổ mà hiên ngang (…)/ Dũng cảm, yêu thương, lòng chân thật/ Thuỷ chung với bạn, với nước non”. Và đây là những lời ca ngợi nhờ ơn Đảng, Bác Hồ mà nhân dân được ấm no, văn minh: “Có ai muốn lên Đồng Văn chơi/ Ra đường lên xe đi nghe thấy/ Còn muốn ngồi thêm đã đến nơi/ Đường này Chính phủ Cụ Hồ mở/ Mở thành đường tốt cho người dân” (Đường lên Đồng Văn). Cũng có khi là những câu thơ chan chứa nghĩa tình về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh - người thầy đã dìu dắt ông đến với cách mạng, với thơ: “Đồng chí tình thân như ruột thịt/ Dìu dắt tôi đi bước đường thơ/ Giấy bằng lá chuối, dao làm bút/ Ngày nay nên người nhớ lại xưa” (Gặp đồng chí Văn).

Trong cuộc đời làm thơ của mình, thi sĩ Bàn Tài Đoàn đã xuất bản hơn chục tập thơ, đó là: Muối của cụ Hồ (1960), Xuân về trên núi (1963), Có mắt thấy đường đi (1962), Một giấc mơ (1964), Kể chuyện đời (1968), Tháng Tám đổi mới (1971), Rừng xanh (1973), Sáng cả hai miền (1975), Gửi đồng bào Dao (1979), Nơi ta ở (1979), Bước đường tôi đi (1985), Tìm bạn rừng (1990), Bó đuốc sáng (2002)… Ngoài ra, thơ ông còn được chọn in chung trong nhiều tuyển tập.

3. Hơn 80 năm sáng tác, với hơn 10 tập thơ, sức lao động của ông quả là đóng góp đáng quý với nền văn học dân tộc ít người ở Việt Nam. Nhưng, Bàn Tài Đoàn vẫn canh cánh một điều, làm thế nào để có người nối tiếp mình, viết lên tiếng nói của người dân tộc Dao, nâng cao văn hóacủa dân tộc Dao, hòa chung với sự phát triển của cả đất nước đồng thời vẫn giữ được bản sắc riêng biệt của dân tộc mình: “Ngày nay tôi đã nhiều tuổi tác/ Như mặt trời sắp xế về tây/ Con đường làm thơ dài dằng dặc/ Nghĩ ai sẽ nối bước đi này” (Tìm bạn).

Vẫn nhớ y nguyên lần ấy chúng tôi đến thăm ông. Căn nhà vợ chồng ông ở nằm cách mặt đường vào chợ huyện Nguyên Bình vài chục bước chân. Lần đầu đến, thoáng chút ngỡ ngàng bởi sự khang trang trước một ngôi nhà mới xây, tầng đổ bê tông vững chắc. Trước cửa nhà, có chiếc ao nhỏ. Mép ao có mấy cây hoa hồng đỏ thắm thoang thoảng hương thơm. Vợ ông ra đón, dẫn khách vào nhà. Lúc ấy, thi sĩ của những vần thơ “Con khóc đòi ăn cơm chấm muối/ Mẹ tìm đâu hạt muối cho con? Mẹ dỗ: con ơi đừng khóc nữa/ Bố gánh củi đi chợ đổi muối rồi/ Con nín nghe theo lời mẹ bảo/ Bố về được muối đầu đũa ngon…” đang ngồi ở mép giường, ông có vẻ yếu nhiều. Vợ ông dìu ông ngồi lên chiếc ghế. Bàn Tài Đoàn vui vẻ khi thấy khách lạ đến chơi. Nhưng tuổi cao khiến suy nghĩ của ông đã chậm. Vợ ông nhiều khi phải “phiên dịch” cho chồng. Bà bảo ngôi nhà 3 gian khang trang này là món quà của Đảng bộ và UBND tỉnh Cao Bằng xây tặng cho đồng chí lão thành cách mạng, nhà thơ Bàn Tài Đoàn.

Đó cũng là lần duy nhất được gặp thi sĩ độc đáo nhất của cộng đồng người Dao - thi sĩ Bàn Tài Đoàn. Và bây giờ, khi viết những dòng này, đã tròn 8 năm ông vĩnh viễn đi xa…

Thư Hoàng