Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp - Chuyện ghi ở Lào Cai - Bài 2: Giữ mạch quản lý an toàn lao động, tháo gỡ những khoảng trống từ cơ sở
Sau khi tỉnh Lào Cai mới được thành lập và chính quyền địa phương đi vào hoạt động, công tác quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động được nhanh chóng kiện toàn, bảo đảm tính liên tục của chính sách. Tuy nhiên, quy mô quản lý mở rộng cũng đặt ra yêu cầu mới về phối hợp liên ngành, thống kê, báo cáo tai nạn và mở rộng bảo hiểm đối với những nhóm lao động dễ bị tổn thương.
Không để địa giới hành chính trở thành khoảng cách trong quản lý
Ngay sau khi tỉnh Lào Cai mới hình thành, một trong những yêu cầu được đặt ra là không để quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy làm gián đoạn việc thực hiện các chính sách liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp và người lao động. Trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, Sở Nội vụ đã chủ động tham mưu UBND tỉnh Lào Cai triển khai các nhiệm vụ quản lý nhà nước theo mô hình tổ chức mới.
Trên cơ sở quy định của Trung ương, tỉnh Lào Cai đã ban hành, cập nhật các văn bản chỉ đạo, kế hoạch và hướng dẫn phù hợp với tổ chức bộ máy và phạm vi quản lý sau sáp nhập. Nội dung tập trung vào phân công trách nhiệm giữa các sở, ngành, địa phương; triển khai Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ); tăng cường phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quản lý máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và đẩy mạnh tuyên truyền, huấn luyện.
Việc rà soát, thống nhất quy trình thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATVSLĐ được triển khai trên phạm vi toàn tỉnh. Các cơ quan, đơn vị và địa phương được hướng dẫn thực hiện theo mô hình tổ chức mới, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người lao động trong tiếp cận chính sách.
Ông Nguyễn Văn Trọng - Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Lào Cai cho biết, là tỉnh có địa bàn rộng, lực lượng lao động phân bố không đồng đều và cơ cấu sản xuất đa dạng đòi hỏi công tác ATVSLĐ không thể chỉ dựa vào hoạt động quản lý hành chính đơn thuần. Yếu tố quyết định là sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và khả năng đưa chính sách đến tận doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và người lao động.
Theo đó, Sở Nội vụ phối hợp với Bảo hiểm xã hội tỉnh, Sở Y tế, Liên đoàn lao động tỉnh, Ban Quản lý các khu công nghiệp, Ban Quản lý các khu kinh tế tỉnh, UBND các xã, phường và các cơ quan liên quan trong tuyên truyền, kiểm tra, giám sát, điều tra tai nạn lao động và giải quyết chế độ bảo hiểm.
Theo ông Trọng, việc phối hợp trên nhằm hướng tới việc hướng dẫn doanh nghiệp khắc phục các nguy cơ mất an toàn, chia sẻ thông tin và xử lý kịp thời các vụ việc phát sinh. Đặc biệt, đối với những lĩnh vực có nguy cơ cao như khai thác khoáng sản, hóa chất, xây dựng, luyện kim, sản xuất và truyền tải điện, yêu cầu kiểm soát rủi ro tại nơi làm việc càng được đặt lên hàng đầu.
Khoảng trống lớn vẫn nằm ở khu vực nhỏ và phi chính thức
Một trong những thách thức đáng chú ý là cơ cấu doanh nghiệp của tỉnh. Cụ thể, Lào Cai hiện có khoảng 7.500 doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động; khoảng 72.000 hộ kinh doanh đăng ký hoạt động và 1.543 hợp tác xã.

Phần lớn các đơn vị này hoạt động trong thương mại, dịch vụ, nông, lâm nghiệp và xây dựng. Đây là khu vực có vai trò quan trọng đối với kinh tế địa phương, nhưng năng lực quản trị, nguồn lực tài chính và khả năng tổ chức hệ thống ATVSLĐ còn hạn chế.
Ở một số đơn vị, công tác an toàn chưa được nhìn nhận đúng mức. Chi phí dành cho huấn luyện, trang bị bảo hộ, kiểm soát yếu tố nguy hiểm, có hại và cải thiện điều kiện làm việc còn hạn chế. Khi nguồn lực dành cho phòng ngừa chưa tương xứng, nguy cơ tai nạn và bệnh nghề nghiệp có thể gia tăng.
Một khoảng trống khác là lực lượng lao động thời vụ và lao động không theo hợp đồng tại khu vực phi chính thức. Đây là nhóm dễ gặp rủi ro nhưng khả năng tiếp cận chính sách bảo hiểm còn thấp. Dù pháp luật đã có quy định về bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện đối với một số nhóm, nhiều người vẫn chưa biết đến chính sách hoặc chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của việc tham gia.
Công tác khai báo, thống kê, điều tra tai nạn lao động cũng cần tiếp tục được chấn chỉnh. Một số doanh nghiệp còn chậm khai báo hoặc chưa thực hiện đầy đủ báo cáo định kỳ, đặc biệt với những vụ tai nạn nhẹ tại cơ sở sản xuất nhỏ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến công tác thống kê mà còn có thể tác động tới quá trình giải quyết quyền lợi cho người lao động.
Từ “xử lý khi xảy ra” sang “phòng ngừa từ đầu”
Để thu hẹp những khoảng trống trên, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng cường kiểm tra mà phải chuyển mạnh sang phòng ngừa. Doanh nghiệp cần được hướng dẫn xây dựng kế hoạch ATVSLĐ phù hợp với quy mô và đặc thù sản xuất; nhận diện, đánh giá nguy cơ rủi ro; tổ chức huấn luyện; khám sức khỏe định kỳ; khám phát hiện bệnh nghề nghiệp và quan trắc môi trường lao động theo quy định.
Đối với cơ quan quản lý, việc nâng cao chất lượng dữ liệu cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Khi xác định được đầy đủ hơn số lượng lao động, nhóm ngành nghề nguy hiểm và những khu vực có nguy cơ cao, chính sách tuyên truyền, kiểm tra và hỗ trợ sẽ được triển khai đúng trọng tâm.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh tư vấn để người lao động hiểu rằng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không chỉ là một khoản đóng bắt buộc mà là cơ chế chia sẻ rủi ro. Khi xảy ra tai nạn hoặc mắc bệnh nghề nghiệp, việc có đầy đủ hồ sơ, quá trình tham gia bảo hiểm và thực hiện đúng thủ tục sẽ quyết định khả năng tiếp cận quyền lợi.
Mục tiêu cuối cùng của công tác ATVSLĐ không phải là có thêm những báo cáo đẹp về số vụ tai nạn giảm, mà là giảm thực chất nguy cơ tại nơi làm việc, bảo vệ sức khỏe, tính mạng người lao động và giúp doanh nghiệp phát triển bền vững.
Với tỉnh Lào Cai mới, quá trình kiện toàn quản lý sau sáp nhập vì thế cũng là cơ hội để chuẩn hóa dữ liệu, thống nhất quy trình và đưa chính sách ATVSLĐ đến gần hơn với những nơi còn nhiều khoảng trống. Từ khu công nghiệp, công trường, mỏ khai thác đến hộ kinh doanh và khu vực lao động phi chính thức, an toàn chỉ thực sự được bảo đảm khi chính sách đến được đúng nơi và người lao động biết cách sử dụng quyền lợi của mình.