Biến đổi khí hậu: Rẽ lối để ứng phó
Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa, vựa cá, vựa trái cây của cả nước; được thiên nhiên ưu đãi. Nhưng tới nay, biến đổi khí hậu đã tác động sâu rộng tới khu vực này với những ảnh hưởng xấu: hạn hán ở mức kỉ lục trong vòng 100 năm; nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng tới 90km. Vì vậy, sản xuất tại ĐBSCL gặp khó khăn. Nhưng, cần chấp nhận khó khăn để rẽ lối, tìm hướng phát triển mới - đó chính là một thái độ tích cực trước biến đổi khí hậu.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm 13 tỉnh, thành (Long An, Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và TP. Cần Thơ), thiên nhiên phù hợp cho một nền sản xuất nông nghiệp đa dạng. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của người dân ĐBSCL. Làm gì để ứng phó với BĐKH là câu hỏi lớn đang đặt ra, nhưng dường như chưa có lời giải hữu hiệu.

Năm 2016, Đồng bằng sông Cửu Long phải trải qua một đợt hạn hán lịch sử.
Nước biển dâng, tổn thất nặng nề
Ngoài lợi thế về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng thuỷ sản và chăn nuôi, ĐBSCL còn thích hợp với những loại cây phục vụ cho ngành sản xuất trong nước, tiêu dùng và cho xuất khẩu, như ngô, đậu nành, cây ăn trái, mía đường, đay, dứa, dừa và các loại rau, đậu… Nhiều loại trái cây của vùng đã nổi tiếng cả nước và bắt đầu được các thị trường thế giới chú ý như bưởi năm roi, xoài cát, quýt đường, vú sữa.
Tuy có nhiều lợi thế nhưng ĐBSCL đang phải gánh chịu nhiều thiệt hại do BĐKH gây ra.
Theo hai nhà nghiên cứu Trần Đức Viên và Võ Hữu Công (Trung tâm Sinh thái Nông nghiệp- Đại học Nông nghiệp Hà Nội), riêng với ĐBSCL, nếu mực nước biển dâng như dự báo vào năm 2030 sẽ khiến khoảng 45% diện tích đất của khu vực này có nguy cơ bị nhiễm mặn cực độ và gây thiệt hại mùa màng nghiêm trọng do lũ lụt và úng và thiệt hại tài sản ước tính lên tới 17 tỷ USD.
Cũng theo các nhà khoa học chính sự biến đổi khí hậu có thể gây tác động làm xuất hiện và tăng trưởng các loài sâu hại, làm lây lan các dịch bệnh và sâu bệnh. Đó chính là tác nhân dẫn đến sự gia tăng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam hầu hết các loại thuốc bảo vệ thực vật được nhập khẩu từ nước ngoài rất khó kiểm soát, hơn nữa người nông dân lại dùng thuốc rất tuỳ tiện, lượng thuốc dư thừa rơi vào đất và không khí rất lớn, khi đó thuốc bảo vệ thực vật sẽ biến đổi phân tán theo nhiều con đường khác nhau gây ô nhiễm môi trường.

Bản đồ phân bố rủi ro trong sản xuất lúa ĐBSCL trong bối cảnh
khí hậu biến đổi trên hai phương diện xâm nhập mặn và lũ.
Thực tế cho thấy ở ÐBSCL hiện vẫn còn nhiều điều bất cập, mặc dù tăng trưởng kinh tế cao, nhưng chất lượng và hiệu quả chưa thật sự bền vững; tiềm năng của vùng lớn nhưng nguồn vốn đầu tư để khai thác chưa đáp ứng yêu cầu; đầu tư phát triển cho hạ tầng kinh tế - xã hội còn chậm, nhất là giao thông bộ, thủy lợi đang trở thành khâu cản trở cho sự phát triển chung toàn vùng; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc còn cao.
Biến đổi khí hậu và biến động nguồn nước sông Mekong đã tác động ngày càng phức tạp, nhưng chính tính tự phát của người người nông dân, đang làm trầm trọng thêm nguy cơ phát triển không bền vững của vùng ĐBSCL. Hiện ĐBSCL vẫn còn trên 80% là nông dân và sống bằng nông nghiệp, trình độ học vấn thấp, làm nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản bằng kinh nghiệm là chính. Thành tựu của sản xuất nông nghiệp 30 năm đổi mới là to lớn, nhưng kết quả sản xuất nông nghiệp đó chủ yếu là nông nghiệp hóa chất, vùng ĐBSCL bình quân hàng năm sử dụng cho nông nghiệp khoảng 2 triệu tấn phân hóa học và từ 400.000 – 500.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật và hóa chất kháng sinh cho nuôi trồng thủy sản. Ngày nay công nghệ sản xuất tiến bộ, có giảm nhưng chưa nhiều.
Hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại
Ông Trần Văn Tư- Chủ tịch Hội Khoa học xã hội và Nhân văn TP Cần Thơ cho rằng, BĐKH và nguồn nước sông Mekong ngày càng sụt giảm đang đe dọa đến phát triển bền vững ở vùng ĐBSCL. Nhưng để khắc phục thách thức và phát triển bền vững vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm này, yếu tố quyết định là con người, trước hết là người nông dân phải được đào tạo. Người nông dân ĐBSCL có vốn kinh nghiệm thực tiễn, ý chí sản xuất hàng hóa cao, nhạy cảm với cái mới, ngày nay rất tha thiết được bồi dưỡng kiến thức khoa học và công nghệ. Nhu cầu được trang bị, kiến thức về sử dụng và chế tạo máy nông nghiệp, vừa tạo khả năng cơ khí hoá nông nghiệp và khả năng bắt chước sáng chế máy nông nghiệp phù hợp với điều kiện đồng ruộng và sản xuất nông nghiệp của từng vùng sinh thái…Kiến thức về quản lý, hạch toán, sản xuất kinh doanh gắn với kinh tế thị trường…Kiến thức về quá trình BĐKH và quy trình công nghệ sản xuất thích ứng trước hết là công nghệ sản xuất trong điều kiện nước mặn, hạn…hiện nay.

Đợt khô hạn khốc liệt vừa qua khiến sản xuất ở ĐBSCL khó khăn.
Vấn đề liên kết vùng phải đưa lên hàng đầu. ĐBSCL cần có một quy hoạch chung cho toàn vùng, sau đó mới bố trí các dự án phù hợp với từng địa bàn trong khu vực. Mặt khác, trong liên kết vùng cần có sự thống nhất giữa các cấp chính quyền địa phương, nhằm tạo sự đồng bộ trong quy hoạch, đầu tư phát triển. Việc cân đối nguồn vốn đầu tư cho vùng và tăng cường thu hút vốn ODA, FDI là những vấn đề cần quan tâm.
Đề cập đến những giải pháp cụ thể, GS Võ Tòng Xuân, phân tích: Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất bị thiệt hại bởi tình trạng khí hậu biến đổi không lường trong thập kỷ vừa qua. Đặc biệt trong năm 2015, nông nghiệp thế giới bị ảnh hưởng lớn bởi hiện tượng El Nino xuất phát từ vùng xích đạo đông Thái Bình Dương khi nhiệt độ mặt biển tăng cao hơn bình thường. Điều quan trọng bây giờ là chúng ta phải hành động để ứng phó, nhằm thích ứng với sự BĐKH. Đối với ĐBSCL, chúng ta chỉ nên tập trung trồng lúa tại các vùng đất phù sa ven sông hoặc ven kênh lớn bảo đảm có nước ngọt hoàn toàn quanh năm, và tránh các vùng ven biển nước ngọt rất bấp bênh. Tại các vùng nhiễm mặn nếu nuôi tôm bền vững thì nhà nước nên xây dựng hệ thống vuông tôm có kênh thủy lợi kèm theo mới tránh được bệnh tôm như hiện nay. Vùng đất giồng cát ven biển thì nhà nước có thể tổ chức cho nông dân trồng màu như củ hành, tỏi, sắn... hoặc cây ăn trái xoài, nhãn, vú sữa, chuối... liên kết với các doanh nghiệp chế biến bảo quản các sản phẩm này đưa ra thị trường trong nước hoặc xuất khẩu.
Ông Nguyễn Văn Được - nguyên Thư ký Hội đồng Khoa học & Công nghệ TP HCM đề nghị, ĐBSCL phải tiến đến nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, điều này đòi hỏi các yếu tố: cơ sở hạ tầng, nhân lực, vốn và công nghệ. Trong đó, thị trường ở phạm vi toàn cầu, hai yếu tố vốn và công nghệ có độ cơ động rất cao, trong khi hai yếu tố cơ sở hạ tầng và nhân lực là hai yếu tố nội sinh, về cơ bản cần có những nỗ lực và thời gian. Kinh nghiệm thực tiễn 15 - 20 năm gần đây cho thấy, trong điều kiện toàn cầu hóa nếu vùng có được cơ sở hạ tầng phát triển và nguồn nhân lực đáp ứng được hoặc có khả năng đáp ứng kịp thời những đòi hỏi về chất lượng, cơ cấu và số lượng thì nguồn vốn và công nghệ sẽ đến với vùng đó. Vì thế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tham gia thị trường toàn cầu là cơ hội của tất cả các quốc gia, tất cả các doanh nghiệp tại các nước phát triển cũng như đang phát triển, nếu có chiến lược phù hợp tập trung vào việc nắm bắt thời cơ - thời cơ trở thành động lực hàng đầu trong phát triển.
| Với gần 4 triệu ha đất tự nhiên, trong đó có trên 3,8 triệu ha đất nông nghiệp, nhiều loại cây trồng, vật nuôi đa dạng, phong phú, có giá trị kinh tế lớn, ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm, bảo đảm an ninh lương thực của cả nước với các sản phẩm chính: lúa, trái cây, thủy hải sản, chăn nuôi. ĐBSCL đóng góp 18% GDP, 50% sản lượng lúa, 90% sản lượng gạo xuất khẩu, 70% lượng trái cây, hàng năm cung cấp khoảng 52% sản lượng thủy sản đánh bắt và gần 67% sản lượng thủy sản nuôi trồng trong cả nước. Xuất khẩu chiếm 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. |