Biến sức hút của STEM thành nguồn nhân lực chất lượng cao
Lần đầu tiên, số thí sinh đăng ký xét tuyển đại học (ĐH) vào các ngành STEM vượt 467.000, chiếm hơn một nửa tổng số thí sinh đăng ký xét tuyển năm 2026. Con số này cho thấy sự thay đổi rõ nét trong lựa chọn nghề nghiệp của người học, đồng thời phản ánh sức hút ngày càng lớn của các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển công nghệ cao và nhu cầu nhân lực chất lượng cao ngày càng tăng.

Tín hiệu khởi sắc của nguồn nhân lực tương lai
Những năm gần đây, bức tranh tuyển sinh ĐH đã có sự dịch chuyển rõ rệt. Nếu trước đây các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh hay tài chính luôn chiếm ưu thế thì nay các ngành trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, khoa học dữ liệu, an toàn thông tin, điện tử - viễn thông, cơ điện tử, tự động hóa hay công nghệ sinh học đều ghi nhận lượng hồ sơ đăng ký tăng mạnh.
Sự thay đổi này đến từ nhiều yếu tố. Nhu cầu nhân lực cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các ngành công nghệ chiến lược ngày càng lớn khi nhiều doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài nước mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Đồng thời, các chủ trương phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cùng việc mở thêm nhiều chương trình đào tạo, đầu tư phòng thí nghiệm và hợp tác quốc tế đã tạo thêm sức hút cho khối ngành STEM.
Theo GS.TS Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội), sự gia tăng đột biến số lượng thí sinh lựa chọn STEM là kết quả của quá trình triển khai các nghị quyết về khoa học, công nghệ và giáo dục, cùng các chương trình đào tạo mới về bán dẫn, vi mạch, trí tuệ nhân tạo, đường sắt tốc độ cao hay năng lượng hạt nhân. Điều đó cho thấy nhận thức của xã hội về giá trị của các ngành khoa học, kỹ thuật đã thay đổi tích cực.
Tuy nhiên, ông Trình cũng cảnh báo rằng chỉ sau 3 - 5 năm, Việt Nam sẽ có một lực lượng lao động STEM rất lớn. Khi đó, thách thức không còn là đào tạo bao nhiêu người mà là tạo đủ việc làm chất lượng cao để khai thác hiệu quả nguồn nhân lực này. Nếu nền kinh tế không hấp thụ được đội ngũ kỹ sư và chuyên gia công nghệ được đào tạo, lợi thế về quy mô tuyển sinh sẽ khó chuyển hóa thành động lực tăng trưởng.
Xây dựng hệ sinh thái phát triển nhân lực STEM
Số lượng người học tăng chưa đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ sớm giải quyết được bài toán thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại sinh viên sau tuyển dụng do còn hạn chế về ngoại ngữ, kỹ năng thực hành, nghiên cứu và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Với các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo hay robot, yêu cầu về nguồn nhân lực còn cao hơn khi người học phải có tư duy sáng tạo, năng lực nghiên cứu và khả năng cập nhật công nghệ liên tục.
Điều này đòi hỏi các trường ĐH chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực, tăng cường thực hành, nghiên cứu và gắn đào tạo với các bài toán thực tế của doanh nghiệp.
Theo GS Chử Đức Trình, muốn giải quyết bài toán việc làm cho nguồn nhân lực STEM cần phát triển mạnh hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Nếu trước đây Việt Nam tập trung thu hút các tập đoàn lớn thì nay cần đồng thời nuôi dưỡng những doanh nghiệp công nghệ nội địa có khả năng đổi mới sáng tạo. Ông dẫn kinh nghiệm từ Nhật Bản, nơi nhiều doanh nghiệp bán dẫn chỉ có vài chục, thậm chí khoảng 10 nhân sự nhưng vẫn sở hữu công nghệ độc đáo và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính mạng lưới SME công nghệ là khu vực hấp thụ phần lớn lao động kỹ thuật và tạo sức sống cho nền công nghiệp.
Để hỗ trợ khu vực này, GS Chử Đức Trình đề xuất xây dựng các trung tâm R&D dùng chung, nơi Nhà nước đầu tư hạ tầng còn doanh nghiệp, trường ĐH và viện nghiên cứu cùng khai thác. Mô hình này giúp giảm chi phí đầu tư, rút ngắn quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm, đồng thời tạo môi trường để sinh viên, giảng viên và doanh nghiệp cùng tham gia nghiên cứu, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho rằng trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng, các trường ĐH giữ vai trò trung tâm trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Các chính sách mới, đặc biệt là Nghị định 179/2026/NĐ-CP về học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, không chỉ nhằm thu hút người học mà còn hướng tới nâng cao chất lượng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho các ngành công nghệ cao.
Cùng đó là yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp. Chỉ khi hình thành được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia của Nhà nước, trường ĐH và doanh nghiệp, sức hút của STEM mới thực sự được chuyển hóa thành nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước.