Báo Đại Đoàn Kết Chính trị

Bước chuyển ngoạn mục trong ngoại giao đa phương

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Bước chuyển ngoạn mục trong ngoại giao đa phương

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Ngày 20/9/2017, đánh dấu kỷ niệm 40 năm Việt Nam gia nhập LHQ, một tổ chức quốc tế lớn nhất có vai trò định hình chính trị toàn cầu.

Từ chỗ là một nước nhỏ chỉ được biết đến với chiến tranh và nghèo đói, đến nay Việt Nam đã trở thành một quốc gia có tiếng nói được chú ý, được quốc tế đánh giá là một trong những nước có nỗ lực lớn nhất thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ mà LHQ đề ra. Đại sứ Ngô Quang Xuân, nguyên Trưởng phái đoàn Việt Nam tại LHQ giai đoạn 1993-1999 đã chia sẻ về những thay đổi này của Việt Nam trong suốt 40 năm qua.

Đại sứ Ngô Quang Xuân (trái) gặp Tổng thư ký LHQ Kofi Annan trong nhiệm kỳ công tác tại Phái đoàn Việt Nam ở LHQ.

PV: Thưa đại sứ, ông có thể cho biết cảm nhận đầu tiên của ông khi đặt chân đến trụ sở của Liên hợp quốc vào thời điểm cách đây hơn 20 năm?

Đại sứ Ngô Quang Xuân: Thực ra tôi đến LHQ vào giai đoạn khá quan trọng cho ngoại giao của Việt Nam nói chung và ngoại giao đa phương nói riêng vì chúng ta vừa trải qua một thập kỷ bị bao vây, cấm vận.

Suốt cả những năm 80 đó chúng ta hoạt động ở LHQ với nhiệm vụ rất đặc biệt là giải quyết vấn đề Campuchia. Họ tạo thành một thế lực chung để bao vây cấm vận cô lập Việt Nam.

Khi tôi sang năm 1993 thì vấn đề Campuchia không còn. Lúc đó chúng ta đang bước sang năm thứ 7 của sự nghiệp đổi mới, từ vực thẳm bị bao vây, cấm vận và có thể là thời điểm cực kỳ khó khăn trong những năm 1990, 1991 vì chỗ dựa chính của chúng ta là Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu bị sụp đổ.

Khi tôi sang LHQ thì chúng ta không còn hai yếu tố này. Mặc dù tôi đã nghiên cứu về hệ thống và tổ chức này, nhưng khi sang đến nơi tôi mới thấy đây là một tổ chức quá đồ sộ, mênh mông.

Những cảm nhận này khuyến khích con người mình tò mò và phải học tập, khám phá. Nhưng có một điều động viên khuyến khích tôi, khi làm trong nghề này, nhất là ngoại giao đa phương, đó là Việt Nam phải tự lập, tự lập cánh sinh trong hoạt động tại LHQ vì chúng ta không còn chỗ dựa. Nên tôi thường nói với nhân viên phái đoàn là chúng ta bây giờ dựa vào cái gì để hoạt động. Và, cái quan trọng nhất là thấy cái gì lợi cho dân, lợi cho đất nước, tức là lợi ích dân tộc là trên hết.

Như ông nói đó là thời điểm mà Việt Nam đang ở thế yếu, cô lập. Nhưng từ năm 1993 đến nay thì vị thế của Việt Nam rõ ràng đã khác và có những thay đổi cơ bản. Vậy ông đánh giá thế nào về vai trò, vị trí của Việt Nam lúc bấy giờ và thời điểm hiện nay?

- Giai đoạn đầu, trước năm 1993, có thể nói là giai đoạn chúng ta cố gắng tìm sự hỗ trợ của LHQ, trước hết là để khôi phục sau chiến tranh.

Thứ hai là để cho các nước thấy Việt Nam trong bao vây cấm vận khó khăn như thế nào và chính nghĩa của Việt Nam như thế nào.

Năm 1992, chúng ta bắt đầu đàm phán lộ trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, chuẩn bị tham gia vào ASEAN và Tổ chức thương mại thế giới WTO.

Đây là giai đoạn rõ ràng chúng ta phải thể hiện mình. Năm 1995, chúng ta có mấy sự kiện lớn, tháng 7/1995 chúng ta bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, cũng trong tháng này chúng ta gia nhập ASEAN, trong tháng này chúng ta ký hiệp định khung về kinh tế với EU.

Năm 1995, trong nghề ngoại giao là một bước ngoặt. Từ đó, chúng tôi vận dụng những kết quả này, vận động bạn bè quốc tế, chúng ta bắt đầu nghĩ tới việc tham gia các cơ chế lãnh đạo của LHQ.

Trong năm 1995, tức là khóa 50, tiếp theo là khóa 51 và 52, chúng tôi bắt đầu tăng tốc hoạt động và tìm kiếm cơ hội tham gia các vị trí lãnh đạo của LHQ.

Khóa 52 của Đại hội đồng LHQ, chúng ta đã thành công trong việc trở thành thành viên của ECOSOC, phiếu cao nhất ở Đại hội đồng, chúng ta cũng trở thành phó chủ tịch lần đầu tiên tại LHQ.

Chúng ta cũng bắt đầu tham gia vào ban lãnh đạo trong các khu vực khác, các tổ chức quốc tế khác. Vì vậy, vị thế của Việt Nam bắt đầu thay đổi và trưởng thành.

Cũng nhờ giai đoạn sau 1991-1993, chúng ta chuyển động, tự lập, tự lực để hoạt động trên cơ sở lợi ích của mình gắn kết với lợi ích của bạn bè quốc tế, để người ta thấy rằng Việt Nam là một đất nước, một thành viên có trách nhiệm trong LHQ, một đối tác có thể nhìn thấy tiềm năng phát triển và tin cậy.

Chúng ta đã vượt qua một giai đoạn như thế. Và cho đến sau này, năm 2008-2009, chúng ta hoàn thành rất tốt nhiệm vụ của thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an.

Chúng ta vừa phải hợp tác, vừa phải lặng lẽ đấu tranh. Bây giờ, chúng ta đã rất vững vàng khi tham gia vào bất cứ một cơ chế lãnh đạo nào của LHQ. Ngoại giao đa phương nói chung và vị trí của Việt Nam trong LHQ đã thay đổi một cách rất rõ ràng, ngoạn mục.

Điều gì khiến ông ấn tượng nhất trong những chuỗi vận động này?

- Tôi nhớ là tại khóa 51, năm 1996-1997, chúng tôi đã thử và chúng tôi đã thua trong cuộc bầu cử vào ECOSOC. Chúng tôi ngồi ở dưới và nghĩ rằng mình trúng rồi vì bạn bè quốc tế hô ủng hộ nhiều lắm, đi vận động ai cũng bảo phải ủng hộ Việt Nam nhưng khi bỏ phiếu mình thua.

Sau sự kiện đó, chúng tôi cũng thay đổi, điều chỉnh, tiếp xúc từng nhóm nước một và năm 1997 chúng ta thành công, vào được ECOSOC với số phiếu cao nhất ngay từ vòng đầu.

Từ thắng lợi ấy đê thấy rằng, ngoại giao đa phương của Việt Nam đã từ lâu rồi, năm 1946, được Bác Hồ đặt nền móng cho ngoại giao hội nhập, Bác đã viết thư để vào LHQ nhưng do lịch sử phát triển, cuộc kháng chiến bắt đầu, sau đó là chiến tranh với Mỹ…trong thời gian đó, chúng ta vận động các mặt trận quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta.

Đây là những bài học ngoại giao tôi cho là rất quý báu, như chủ trương của Đảng là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Chúng ta đã triển khai ngoại giao cả song phương và đa phương.

Chúng ta đã thành công. Có nhiều yếu tố tạo cho mình từng bước từng bước tương đối vững chắc, cho đến khi mà Việt Nam, sau này trở thành thành viên của HĐBA hay việc Việt Nam gửi quân nhân của mình tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ tại một số nước cho đến giai đoạn hợp tác kinh tế, hợp tác mọi mặt thì LHQ cũng coi Việt Nam như một điển hình, rất hiệu quả.

Trong 40 năm qua, chúng ta thấy rõ sự thành công của Việt Nam, đã tạo ra một thương hiệu quốc gia cho Việt Nam. Thương hiệu gắn với những thành tựu, đóng góp của Việt Nam cho LHQ. Ông nghĩ như thế nào về vấn đề này và nó có ý nghĩa như thế nào trong các hoạt động ngoại giao đa phương của Việt Nam?

- Thương hiệu có nghĩa là màu cờ sắc áo của đất nước, của dân tộc, của lịch sử và của nền văn hóa truyền thống của Việt Nam. Điều này được đánh đổi bằng cái giá không hề nhỏ.

Trong quá khứ, đó là sự hy sinh máu xương của bao nhiều thế hệ tạo dựng nên đất nước Việt Nam. Giai đoạn đầu, sau chiến tranh chúng ta gặp nhiều khó khăn do chiến tranh tàn phá. Chúng ta đã phải trả giá rất lớn trước khi tham gia vào LHQ.

Năm 1977, dưới chính quyền đảng Dân chủ của Tổng thống Jimmy Carter, Mỹ không còn dùng quyền phủ quyết để ngăn Việt Nam gia nhập LHQ nữa, vì cả thế giới đều đồng ý rằng Việt Nam xứng đáng là thành viên, tại sao Mỹ còn phủ quyết.

Những điều này đã thể hiện Việt Nam có vị trí rất rõ ràng. Trong cả quá trình chúng ta hợp tác với LHQ, tôi có thể tự hào mà nói, hầu như không có tiêu cực trong hợp tác giữa Việt Nam và LHQ.

Tôi đã từng nói rằng, trong hợp tác song phương giữa Việt Nam và các nước có lúc cao, lúc thấp, lên bổng, xuống trầm, tức là có những lúc khó khăn.

Tuy nhiên, có thể nói hợp tác giữa Việt Nam và LHQ luôn đi lên và luôn mang màu sắc tích cực, khách quan và minh bạch.

Thương hiệu của Việt Nam trong hợp tác với LHQ, nhất là quá trình phát triển, LHQ hỗ trợ Việt Nam rất nhiều, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực.

Cho nên, quan điểm của tôi là: họ đã chuẩn bị cho chúng ta những điều kiện bước vào thời kỳ đổi mới, sau khi đổi mới một vài năm chúng ta bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, thương hiệu của Việt Nam được xây dựng trên những nền móng này.

Khi thực hiện 8 mục tiêu thiên niên kỷ, LHQ cũng đánh giá Việt Nam là một trong số các nước thực hiện tốt nhất. Hiện nay, khi thực hiện các chủ trương lớn như xây dựng một LHQ, thì Việt Nam là 1 trong 8 nước điển hình nhất.

Thương hiệu này là cam kết chính trị rất cao của Việt Nam từ người dân cho đến lãnh đạo, cam kết chính trị này rất quan trọng. Đấy là thương hiệu của Việt Nam ở LHQ.

Trân trọng cảm ơn ông!

Diệp Châu (thực hiện)