Bưu chính - logistics: Cần một hành lang pháp lý theo kịp kinh tế số
Từ những bức thư, tài liệu của hơn một thập kỷ trước đến hàng tỷ gói, kiện phục vụ thương mại điện tử hiện nay, ngành bưu chính Việt Nam đã thay đổi căn bản. Sự dịch chuyển này không chỉ đòi hỏi hiện đại hóa công nghệ mà còn đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật, nhất là xác định rõ ranh giới giữa dịch vụ bưu chính và các công đoạn của chuỗi logistics hiện đại.

Ảnh minh họa: Bộ KHCN.
Bưu chính ngày càng gắn chặt với logistics và thương mại điện tử
Quy mô thị trường cho thấy rõ tốc độ biến đổi của bưu chính Việt Nam. Nếu năm 2010, cả nước có khoảng 360 triệu bưu gửi thì đến năm 2025 con số này đã lên khoảng 4,1 tỷ, tăng hơn 12 lần. Doanh thu dịch vụ bưu chính đạt khoảng 87.000 tỷ đồng. Trong đó, thư tín truyền thống hiện chỉ còn dưới 10% sản lượng, còn gói, kiện hàng hóa chiếm trên 90%.
Bưu chính vì thế ngày càng gắn chặt với thương mại điện tử, từ tiếp nhận đơn hàng, chia chọn, vận chuyển đến giao hàng và hoàn trả. Doanh nghiệp bưu chính không còn đơn thuần là đơn vị “chuyển phát”, mà trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng số - vật lý.
Trong khi đó, Luật Bưu chính năm 2010 được xây dựng trong bối cảnh thị trường có quy mô nhỏ hơn nhiều. Sau 15 năm, hàng loạt mô hình mới đã xuất hiện như trung tâm chia chọn tự động, kho xử lý đơn hàng, fulfillment, điểm nhận hàng tự động, quản lý hàng hoàn và nền tảng số kết nối người bán với mạng lưới giao hàng.
Vấn đề đặt ra không phải là nhập bưu chính với logistics thành một lĩnh vực duy nhất, mà cần xác định rõ đâu là hoạt động bưu chính, đâu là logistics độc lập và đâu là những công đoạn giao thoa cần cơ chế quản lý thống nhất, minh bạch.
Logistics hiện đại có phạm vi rộng, gồm lưu kho, quản lý tồn kho, đóng gói, xử lý đơn hàng, gom tách hàng, vận tải và phân phối. Trong khi đó, bưu chính tập trung vào quá trình chấp nhận, chia chọn, vận chuyển và phát bưu gửi.
Nếu ranh giới không rõ, doanh nghiệp có thể gặp khó trong xác định điều kiện kinh doanh, trách nhiệm pháp lý và cơ chế quản lý. Quản lý quá rộng có thể làm tăng chi phí tuân thủ, trong khi quản lý quá lỏng lại tạo khoảng trống về an toàn bưu gửi, bảo vệ thông tin, truy xuất hàng hóa và phòng chống hàng cấm.
Đây cũng là vấn đề được dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi) năm 2026 đặt ra. Theo Bộ KHCN, dự thảo xác định dịch vụ bưu chính dựa trên bản chất hoạt động, gồm chấp nhận, chia chọn, vận chuyển, phát và các công đoạn gắn trực tiếp với từng bưu gửi như lưu kho, xử lý đơn hàng, đóng gói, hoàn trả; đồng thời loại trừ vận tải, kho bãi và logistics độc lập.
Cách tiếp cận này nhằm phân định phạm vi quản lý theo bản chất và mối liên hệ trực tiếp với bưu gửi, thay vì mở rộng khái niệm bưu chính một cách cơ học.
Chuyển sang quản lý bằng dữ liệu, tạo dư địa cho doanh nghiệp phát triển
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự hội tụ giữa bưu chính, thương mại điện tử và logistics không phải câu chuyện riêng của Việt Nam. Tại Nhật Bản, Japan Post đã phát triển từ dịch vụ thư và bưu kiện sang cung cấp các giải pháp logistics, trong đó có thiết kế, xây dựng và vận hành chuỗi logistics. Japan Post cũng từng hợp tác với Rakuten để xây dựng các trung tâm logistics và hệ thống giao hàng dùng chung cho thương mại điện tử.
Tại Singapore, SingPost xác định mình là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính và logistics thương mại điện tử, với hệ sinh thái gồm kho bãi, fulfillment, giao hàng chặng cuối và logistics quốc tế.
Điểm đáng chú ý từ các mô hình này không phải là sao chép cách tổ chức của các nước, mà là tư duy không chia cắt cứng nhắc các mắt xích của chuỗi cung ứng. Nhà nước xác định rõ trách nhiệm đối với từng công đoạn, đồng thời tạo không gian để doanh nghiệp tích hợp dịch vụ và đầu tư công nghệ.
Đây cũng là hướng quan trọng trong dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi), khi định hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, kết hợp định danh, truy vết và quản lý bưu gửi theo mức độ rủi ro. Mỗi bưu gửi được gắn mã nhận dạng duy nhất trong hệ thống doanh nghiệp, phục vụ theo dõi từ tiếp nhận, chia chọn, vận chuyển đến phát.
Với khoảng 4,1 tỷ bưu gửi mỗi năm, phương thức kiểm soát đồng loạt theo cách truyền thống sẽ ngày càng tốn kém và kém hiệu quả. Quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro cho phép tập trung nguồn lực vào những khâu, nhóm hàng có nguy cơ cao, đồng thời giảm gánh nặng không cần thiết đối với hoạt động thông thường.
Yêu cầu sửa Luật Bưu chính cũng nằm trong dòng chảy rộng hơn của cải cách thể chế. Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân nhấn mạnh hoàn thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ rào cản và thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Trong lĩnh vực logistics, Quyết định 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050, hướng tới ngành logistics bền vững, hiệu quả và có năng lực cạnh tranh.
Vì vậy, sửa Luật Bưu chính không chỉ là cập nhật một đạo luật chuyên ngành mà còn là cơ hội hoàn thiện hành lang pháp lý cho một hạ tầng kết nối trực tiếp dòng chảy vật chất với dòng chảy dữ liệu của nền kinh tế số.