Cần khái niệm rõ ràng về an ninh năng lượng
Theo Bộ Công Thương, pháp luật hiện hành vẫn chưa có khái niệm về an ninh năng lượng hay luật riêng về an ninh năng lượng. Để khắc phục bất cập này rất cần sự phối hợp của các bộ ngành và địa phương.
Bộ Công Thương cho rằng, an ninh năng lượng là phạm trù rộng, có tính liên ngành rất cao, chặt chẽ, bao trùm các lĩnh vực quản lý nhà nước của nhiều bộ, ngành (như tài chính - ngân sách, thuế, tín dụng - ngân hàng, dự trữ quốc gia, đầu tư, đất đai, địa chất - khoáng sản, không gian biển, khoa học - công nghệ) chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi quản lý ngành của Bộ Công Thương.
Đánh giá của Bộ Tư pháp cho thấy, kết quả tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, ngành, địa phương gửi về mới chỉ tập trung chủ yếu ở nhóm pháp luật chuyên ngành Công Thương (điện lực, dầu khí, địa chất, khoáng sản) và Nông nghiệp - Môi trường (đất đai); các đề xuất xử lý văn bản hoặc xây dựng mới văn bản thuộc lĩnh vực tài chính, thuế, tín dụng ưu đãi, quản lý nợ công. Tuy nhiên, các cơ chế, chính sách đặc thù hình thành các trung tâm công nghiệp, năng lượng, trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng và dự trữ quốc gia, dự trữ chiến lược để thể chế hóa toàn diện các nhiệm vụ mới mà Đảng đã giao tại Nghị quyết số 70-NQ/TW, Kết luận số 18-KL/TW, Nghị quyết số 79-NQ/TW chưa được đề xuất.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Phan Mạnh phân tích, nguyên nhân của những bất cập trên bắt nguồn từ chức năng quản lý nhà nước về năng lượng đang chia cho nhiều bộ. Quá trình phân cấp, phân quyền mạnh cho địa phương chưa đi kèm, gắn với định hướng đảm bảo mục tiêu quốc gia. Rõ nhất là sự phân mảnh trong chuỗi thủ tục đầu tư dự án năng lượng “Quy hoạch – Chủ trương đầu tư – Giao đất/Giao khu vực biển – Cấp phép khoáng sản – Xây dựng”.
Một dự án năng lượng trọng điểm (như nhà máy điện khí LNG, điện gió ngoài khơi, tổ hợp lọc hóa dầu, kho dự trữ dầu thô và xăng dầu chiến lược) hiện phải chịu sự điều chỉnh của 6 đến 8 đạo luật gồm: Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư (hoặc Luật Đầu tư công, Luật PPP), Luật Điện lực, Luật Đất đai, Luật Địa chất và khoáng sản, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Xây dựng, Luật dự trữ quốc gia.
Cùng với đó là sự thiếu đồng bộ pháp luật chuyên ngành năng lượng với pháp luật về Tài chính - Ngân sách, Thuế, Tín dụng và Quản lý nợ công. Chẳng hạn, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên theo Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, ngành năng lượng cần huy động từ 15 - 20 tỷ USD/năm. Nhưng khó khăn ở chỗ, trần nợ công lại bị giới hạn không quá 60% GDP và ngưỡng an toàn không quá 50% GDP.
Phân tích thực tế, luật sư Hoàng Văn Doãn (Đoàn luật sư TP Hà Nội) chỉ ra bất cập liên quan đến cấu trúc hệ thống pháp luật năng lượng hiện hành, bởi vẫn được thiết kế theo tư duy quản lý từng phân ngành độc lập: Luật Điện lực điều chỉnh ngành điện; Luật Dầu khí điều chỉnh thượng nguồn và trung nguồn dầu khí; hoạt động khai thác, kinh doanh than chịu sự điều chỉnh của Luật Địa chất và khoáng sản, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Thương mại, Luật Quản lý Ngoại Thương, Luật Giá,...; hoạt động dự trữ xăng dầu, dầu thô chịu sự điều chỉnh của Luật Dự trữ quốc gia và Nghị định về kinh doanh xăng dầu.
Luật sư Doãn cho rằng, cấu trúc phân mảnh này làm thiếu hụt một cơ chế pháp lý tổng thể để điều tiết sự liên thông giữa các thị trường năng lượng sơ cấp (than, dầu, khí, LNG) với thị trường năng lượng thứ cấp (thị trường điện cạnh tranh), cũng như thiếu khung pháp lý thống nhất cho các mô hình tích hợp đa ngành như trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia.
Trong báo cáo gửi tới Chính phủ, giải pháp đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia được Bộ Công Thương đưa ra là bám sát Nghị quyết số 70- NQ/TW, Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương và các chủ trương liên quan. Việc hoàn thiện thể chế an ninh năng lượng phải gắn liền với thực thi, phân định rõ trách nhiệm người đứng đầu từng cơ quan, địa phương; đồng thời phải có chế tài kiên quyết thu hồi dự án đối với các nhà đầu tư vi phạm, chây ì, giữ chỗ, bảo đảm thượng tôn pháp luật và lợi ích quốc gia.
Bộ Công Thương kiến nghị Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia giao nhiệm vụ trọng tâm cho các bộ, ngành. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần chủ trì nghiên cứu, rà soát, sửa đổi các quy định hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng hoặc phối hợp với Bộ Công Thương sửa đổi ngay tại Luật Điện lực để tháo gỡ vướng mắc về giới hạn cấp tín dụng tối đa đối với một khách hàng, quy định cho vay bằng ngoại tệ trong nước và thiết lập gói tín dụng ưu đãi, dài hạn cho các dự án năng lượng trọng điểm, dự án hạ tầng dự trữ dầu thô, xăng dầu chiến lược.
Đối với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong dự án Luật Đất đai (sửa đổi) trình Quốc hội cần bổ sung cơ chế thu hồi đất trước một bước theo quy hoạch phân khu và giao đất, cho thuê đất không qua đấu giá, đấu thầu đối với các dự án năng lượng nói chung và các dự án nằm trong chuỗi tại các Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia. Rà soát, sửa đổi đồng bộ quy định về giao khu vực biển để gắn kết đồng bộ giữa cấp phép khảo sát đo gió, điều tra địa chất đáy biển với quyền ưu tiên lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án điện gió ngoài khơi theo pháp luật điện lực…