'Cặp bài trùng'
Những năm 1967-1972, Bộ Quốc phòng và một số nơi có chung đề tài nghiên cứu chống bom và thủy lôi từ trường Mỹ và sau này đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên (năm 1998).

Đề tài quy tụ nhiều nhà khoa học có tên tuổi, nhưng có một người tham gia đề tài lúc còn rất trẻ, chưa hề có bằng cấp gì, đóng góp lớn nhất là lòng dũng cảm khi thực nghiệm. Người đó là ông Nhâm Xuân Coóng, nhân viên Phòng Điện tử, Viện Kỹ thuật quân sự (KTQS). Năm nay ông 71 tuổi, nhà ở phố Phùng Chí Kiên, Hà Nội. Ông nhớ lại nửa thế kỷ trước trực tiếp đối mặt với “Kẻ hủy diệt”...
Từ đầu năm 1967, giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt miền Bắc. Sau rất nhiều trận không kích mà cầu Hàm Rồng vẫn đứng vững, bom thả chệch ra ngoài. Mỹ sử dụng chiến thuật mới, thả một loại thủy lôi trôi trên mặt nước, đến gần trụ cầu thì nổ. Trên bộ, chúng cũng sử dụng một loại bom gọi là Kẻ hủy diệt (Destructor). Bom nặng 500-700 cân Anh, được cải tiến lắp dù ở đuôi và cơ cấu điều khiển nổ bằng điện tử, thực hiện chức năng vừa là bom vừa là “bẫy” nổ khi mục tiêu đến gần, đồng thời còn là bom nổ chậm, tự hủy sau một thời gian. Chỉ một tháng khi những quả bom từ trường đầu tiên của Mỹ đem ra thi thố, công binh Trường Sơn đã có được mẫu đầu nổ mang ký hiệu MK42 mod.0 chuyển về Viện KTQS để nghiên cứu.
Viện trưởng, Đại tá Hoàng Đình Phu đã trao đổi với các cán bộ của Phòng Thông tin trinh sát (sau đổi là Phòng Điện tử) là phải chạy đua với thời gian, giảm nhanh nhất thiệt hại cho hậu phương và chiến trường, cần tìm hiểu ngay tính chất của ngòi nổ và phương pháp chống phá, còn nguyên lý cấu tạo và kết cấu cụ thể của nó sẽ nghiên cứu sau (sau này mới biết cách làm như thế trong thuật ngữ khoa học gọi là phương pháp hộp đen-black box). Loại bom mới được đặt mật danh là TN. Trên các phương tiện thông tin, địch đánh lạc hướng nguyên nhân gây nổ của TN là do âm thanh hoặc chấn động.
Nhưng, bằng cách tạo ra các loại tín hiệu khác nhau ở đầu vào và thu tín hiệu đầu ra, các cán bộ kỹ thuật trẻ của Viện KTQS khẳng định đầu nổ làm việc theo nguyên lý biến thiên từ trường. Chàng trai cao gầy, trắng trẻo Trịnh Đông A tốt nghiệp xuất sắc về vật lý vô tuyến, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, anh được giữ lại trường, đã tình nguyện “biệt phái” sang Viện KTQS (sau này anh đã bảo vệ thành công học vị tiến sĩ và năm 1983 chuyển ra ngoài quân đội, là Tổng cục trưởng Tổng cục Điện tử và kỹ thuật tin học). Hòa nhập nhanh với môi trường nghiên cứu mới, Trịnh Đông A đã tìm ra trong quả thủy lôi loại ngòi nổ siêu cao tần hoạt động theo hiệu ứng Doppler và từ một đầu gây nổ MK-42 của bom TN do công binh đưa đến, anh nắm được nguyên lý nhạy cảm từ trường. Từ đây, anh đã cùng nhóm nghiên cứu thiết kế một cơ cấu khung dây “lồng Faraday” để rà phá bom, gọi là khung PK.
Nơi thí điểm đầu tiên được chọn là cánh đồng còn nhiều bom chưa nổ ở xã Thổ Khối, huyện Gia Lâm (Hà Nội). Nhóm thực nghiệm gồm kỹ sư Nguyễn Hữu Sưởng và hai nhân viên kỹ thuật: Nhâm Xuân Coóng, Vũ Văn Huyên. Ngày đó Nhâm Xuân Coóng, quê Thái Bình, vừa chân ướt chân ráo về Phòng Điện tử, liền xung phong đi thực nghiệm rà phá bom. Anh chỉ nắm được những kiến thức sơ đẳng về loại bom TN do anh em trong nhóm truyền đạt, cộng với nhiệt tình và bầu máu nóng cống hiến của tuổi thanh xuân, anh vào trận lúc mới 18 tuổi. Lần đầu thực hành với PK, các chiến sĩ công binh của Đội 93 đã thao tác rất tốt bằng cách kéo một bảng gỗ gắn 24 viên nam châm ferit và một tấm thép qua vị trí có bom chưa nổ và đã phá được 3 quả TN. Song hiệu suất phá bom theo cách này còn thấp, cấp trên yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp tục cải tiến. Nhóm nghiên cứu vào Quân khu 4, thực hành tiếp việc phá bom tại xã Nam Thái, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thực hành với khung PK, Nhâm Xuân Coóng và Vũ Văn Huyên cởi trần, đi chân đất, mặc độc chiếc quần đùi vào giữa bãi bom, dù biết rằng bom có thể nổ bất cứ lúc nào. Hai anh bình tĩnh rải dây điện đồng ra xung quanh hai quả bom và kéo dây về hầm điểm hỏa ở khoảng cách 20m. Khi mọi người đã về nơi ẩn nấp an toàn, Coóng tay cầm hai đầu dây điện kích vào khối pin Con thỏ. Đã nửa thế kỷ trôi qua, đến giờ ông Coóng vẫn chưa quên cảm giác lúc ấy: Khi bắt đầu chập dây điện vào điện cực của pin vẫn thấy bình thường, nhưng khi thả tay ra thì xung quanh mặt đất rùng rùng chuyển động, bom phát nổ vào lúc ngắt mạch điện đúng như thí nghiệm mô phỏng làm ở nhà! Chiều hôm ấy, các anh đã phá thành công 6 quả bom TN. Sau đó, Coóng ở lại Tiểu đoàn 24 để huấn luyện cho công binh và thanh niên xung phong. Anh còn trực tiếp đi phá bom ở Truông Bồn, Rú Nguộc, Đường 30, bến phà Cấm, hai đầu cầu quốc lộ 1…
Địch tăng cường thả bom TN trên tuyến đường vận tải quân sự Trường Sơn, đã gây nhiều thiệt hại về người và của cho bộ đội ta. Tư lệnh Đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên điện khẩn ra Viện KTQS yêu cầu giúp đỡ. Một đoàn 4 người được cử đi chiến trường, trong đó có kỹ thuật viên trẻ Nhâm Xuân Coóng. Nhóm đã tổ chức huấn luyện và trực tiếp cùng công binh Trường Sơn thực hành phá bom trên nhiều tuyến vận tải. Ở trọng điểm Vang Khoai, có lần các anh điểm hỏa nổ một lần 13 quả TN; ở tuyến của Binh trạm 33 phá đến 50 quả, tháo được 3 đầu nổ.Trong mùa vận chuyển 1968-1969, riêng việc dùng PK các đơn vị công binh trên tuyến đã phá được khoảng 4.000 quả bom TN. Thời gian này, bên cạnh việc phá bom bằng khung dây từ PK, các nhà nghiên cứu còn chế tạo máy phóng từ đặt trên xe u-oát, xe bọc thép cũng rất hiệu quả, độ an toàn cao.
Ở một kho lớn trong rừng Trường Sơn, toàn chứa đạn pháo phản lực ĐKB. Đây là loại vũ khí mới do Liên Xô viện trợ, có uy lực công phá lô cốt, hầm ngầm kiên cố, ống phóng và quả đạn khá to, nặng (quả đạn dài 1,5m; đường kính 122mm). Phải mất rất nhiều mồ hôi công sức, có cả xương máu bộ đội vận tải mới đưa được 1.000 quả đạn ĐKB vào tập trung ở một kho đặt giữa khu rừng le trong một thung lũng núi đá. Đạn được xếp trong các hầm đào cách nhau 20m, mỗi hầm chứa 100 quả. Bất ngờ, một “Kẻ hủy diệt” địch thả hú họa lại cắm sát sạt một hầm. Nếu bom phát nổ thì sẽ kích nổ các quả đạn, toàn bộ kho phút chốc thành bể lửa, tan tành. Nhóm nghiên cứu thống nhất với anh em trong kho kế hoạch vô hiệu hóa quả bom TN kia bằng cách dùng một khung dây đồng vuông 3 lớp và máy khống chế bom tự nổ KC-70 do Trịnh Đông A vừa nghiên cứu, thiết kế thành công đưa vào chiến trường thực nghiệm. Hầm khống chế đặt cách quả bom khoảng 25m. Khi máy khống chế KC-70 phát sóng đạt tới mức bom liệt, thì hai người sẽ chạy thật nhanh vào hầm, vác quả đạn ĐKB đầu tiên ra đặt ở vị trí an toàn cách xa 30m, sau đó mọi người mới cùng chạy vào một lúc, vác hết số đạn ra. Cách này, nếu xảy ra khả năng xấu nhất là không khống chế được bom, thì chỉ hai người vào đầu hy sinh. Nhâm Xuân Coóng và Đại đội trưởng kho tình nguyện đi đầu. Thật may mắn, mọi việc diễn ra suôn sẻ, trong vòng 15 phút đã sơ tán hết số đạn ĐKB. Sau đó các anh mới cho nổ hủy quả bom “oái oăm” kia. Khi cát bụi còn mù mịt, tất cả mọi người nhảy cả lên mặt đất ôm chầm lấy nhau, chúc mừng nhau cùng lập được chiến công.
Đúng vào dịp Tết Kỷ Dậu-1969, lần đầu tiên Nhâm Xuân Coóng và anh em trong nhóm nghiên cứu của Viện KTQS được ăn cái Tết ấm cúng với công binh Trường Sơn. Đêm giao thừa, giữa thung lũng rừng le, mọi người vây quanh cái đài bán dẫn xúc động nghe lời chúc Tết của Bác Hồ: Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc-Nam sum họp, Xuân nào vui hơn. Sáng mùng 1, cỗ Tết bày ra, không mứt, dưa hành, bánh chưng xanh, chỉ có rau môn thục, rau dớn tươi ngắt ở suối nấu cùng măng khô, thịt hộp, anh em đều cười nói vui như Tết. Có thêm niềm vui trong dịp ấy: Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên ký tặng bằng khen về hành động dũng cảm trong phá bom TN cho kỹ thuật viên Nhâm Xuân Coóng.
Nhóm thực nghiệm đi Trường Sơn trở về Hà Nội. Người ở nhà vẫn hồi hộp ngóng tin họ từng ngày và thở phào khi biết anh em đều “lành lặn”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Vừa gặp, Trịnh Đông A liền ôm lấy Nhâm Xuân Coóng, xúc động nói: Anh đã có hành động thật anh hùng. Biết đâu trong khoảnh khắc, thời gian tự hủy của bom vừa đến, mà máy KC-70 của tôi không khống chế được, thì các bạn đã thành liệt sĩ rồi!
Ngày ấy, trong cuộc chiến đấu cam go ác liệt với kẻ xâm lược có tiềm lực kinh tế và khoa học công nghệ hàng đầu thế giới, thì ngoài trí tuệ, còn cần có lòng dũng cảm, Trịnh Đông A và Nhâm Xuân Coóng chính là một “cặp bài trùng”!