Báo Đại Đoàn Kết Góc nhìn Đại Đoàn Kết

Chậm tiến độ dự án là lãng phí

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Chậm tiến độ dự án là lãng phí

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Tạo môi trường thông thoáng để các nhà đầu tư dự án khai thác tiềm năng là một chủ trương đúng. Và chủ yếu tiềm năng của chúng ta là đất, thuộc quản lý theo phân cấp từ địa phương đến trung ương. Thế nhưng, bên cạnh các dự án hoàn thành đúng mục đích và tiến độ thì cũng có khá nhiều công trình “đắp chiếu” do chậm tiến độ. Vấn đề  tồn tại không  hẳn hoàn toàn do yếu tố khách quan mà do “cái bệnh” ắt phải thế trong đầu tư. 

Mới nhất, ngày 19/12, UBND tỉnh Nghệ An có quyết định “Cần kiên quyết thu hồi các dự án chậm tiến độ, không triển khai, để làm sạch môi trường đầu tư của tỉnh”. Con số dự án bị thu hồi lên đến 2.270 dự án.

Trước tỉnh Nghệ An, tại Thanh Hóa có Dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 15C được triển khai thi công từ năm 2010. Theo kế hoạch, Dự án hoàn thành vào năm 2012. Vậy nhưng sau nhiều lần điều chỉnh thời gian thi công đến nay theo chỉ đạo của UBND tỉnh, dự án phải hoàn thành trong tháng 11/2015. Điều đáng nói là chỉ đạo này xem ra bất khả thi khi công tác bồi thường giải phóng mặt bằng vẫn chưa hoàn thành để bàn giao cho nhà thầu thi công.

Ngoài Dự án nói trên, trong 155 dự án của tỉnh Thanh Hóa chuyển tiếp sang niên khóa kế tiếp có rất nhiều dự án thực hiện chậm tiến độ. Nguyên nhân chủ yếu do vướng mắc trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, khó khăn về vốn và năng lực của nhà thầu không tập trung xe, máy, thiết bị, nhân lực cần thiết để thi công.

Bệnh chậm tiến độ thực ra đã tồn tại nhiều năm nay, nhưng khó khắc phục. Theo một báo cáo của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, có đến 4.436 dự án – trong đó có 30% dự án sử dụng vốn nhà nước chậm tiến độ trong năm 2011. Và những năm sau tình trạng không khá hơn, chậm tiến độ vẫn là cái không thể tránh trong nhiều dự án.

Những sự chậm trễ có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu vẫn là do công tác giải phóng mặt bằng chiếm 40,98%, do bố trí vốn không kịp thời chiếm 22,15%; do năng lực của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các nhà thầu là 597 dự án, chiếm 13,45%; do thủ tục đầu tư là 520 dự án, chiếm 11,72%; do các nguyên nhân khác là 789 dự án, chiếm 17,78%.

Về giải phóng mặt bằng chậm phần lớn nằm ở chính sách đền bù, di dời các hộ dân sống trong khu vực dự án, tái định cư các hộ dân phải di dời. Đây có thể nói là căn bệnh mãn tính của các dự án. Số tiền bồi thường có tính áp đặt mà không điều tiết theo biến động của thị trường, cũng chưa vận động đủ liều lượng nên không dễ có sự đồng thuận của người dân.

Phần khác, do nôn nóng nên nhiều địa phương phê duyệt quá nhiều dự án mà không tính tới khả năng cân đối nguồn lực. Trường hợp khu nhà ở sinh viên tỉnh Bạc Liêu với 800 chỗ ở mà chỉ có 10 sinh viên tới ở, rồi cũng bỏ vì thiếu nhiều điều kiện sinh hoạt do dự án chưa thật sự hoàn thành, so với thiết kế còn chậm tiến độ. Không chỉ có thế, còn một nguyên nhân khác gây chậm tiến độ là do chủ đầu tư không đánh giá hết hoặc đánh giá không đúng về năng lực của nhiều nhà thầu còn hạn chế về vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm.

Tình trạng bán thầu, thậm chí bỏ thầu vẫn thường xảy ra. Nhà thầu bỏ thầu dẫn đến việc phải tổ chức đấu thầu lại cũng làm kéo dài thời gian do phải thực hiện phê duyệt điều chỉnh, bổ sung nhiều lần. Thực tế còn có nhiều nhà thầu bỏ thầu chọn “công thức” đưa giá thấp để giành dự án, sau đó kéo dài thời gian để xin bổ sung vốn, giá xin bổ sung quá chênh lệch so với giá trúng thầu, giữa sự chênh lệch này là thời gian chậm hoàn thành.

Qua tình trạng chậm tiến độ nêu trên đòi hỏi phải siết chặt tất cả các khâu liên hệ là giải pháp chung. Nhiều khi hàng trăm hộ dân phải di dời đã chấp nhận bồi thường và giao mặt bằng, chỉ có vài hộ chây ì nhưng do thiếu cương quyết nên chính quyền đành lần lữa lấy kiên trì thuyết phục thay cho biện pháp cưỡng chế. Ở khâu thẩm định trước khi phê duyệt dự án nhiều khi còn bất cập, nóng vội, chưa có những tính toán thật sự chuyên môn và sâu sát, chưa có luận chứng đáng tin cậy. Tình trạng đó còn do sự thiếu kỷ cương trong các cơ quan chức năng. Thủ tục rườm rà, phức tạp cũng là một nguyên nhân quan trọng làm chậm tiến độ thi công.

Thiệt hại do chậm tiến độ là quá rõ. Trước hết, giá thành, kinh phí thực hiện dự án sẽ đội lên, có khi vượt hàng trăm tỉ đồng nhưng do “ván đã đóng thuyền” dang dở, giá nào cũng phải chấp nhận, như trường hợp của một số những cây cầu trên các tuyến đường kinh tế trọng yếu. Cho nên, có thể thấy, giá đầu ra các công trình của chúng ta đa phần là giá đắt so với thực tế. Tình trạng này không thể gọi khác hơn là lãng phí, thất thoát, bào mòn ngân sách…

Giảm thiểu, tiến đến loại trừ các yếu tố làm chậm tiến độ trong các dự án sẽ tiết kiệm được số tiền rất lớn và nhất là dự án mang vào sử dụng đúng thời gian sẽ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội nhanh hơn, tạo được niềm tin không nhỏ.

Để giải quyết tình trạng chậm tiến độ đòi hỏi phải siết chặt tất cả các khâu. Nhiều khi hàng trăm hộ dân phải di dời đã chấp nhận bồi thường và giao mặt bằng, chỉ có vài hộ chây ì nhưng do thiếu cương quyết nên chính quyền đành lần lữa lấy kiên trì thuyết phục thay cho biện pháp cưỡng chế. Ở khâu thẩm định trước khi phê duyệt dự án nhiều khi còn bất cập, nóng vội, chưa có những tính toán thật sự chuyên môn và sâu sát, chưa có luận chứng đáng tin cậy. Tình trạng đó còn do sự thiếu kỷ cương trong các cơ quan chức năng. Thủ tục rườm rà, phức tạp cũng là một nguyên nhân quan trọng làm chậm tiến độ thi công.

Hư Trúc