Chính sách điện tốt phải đảm bảo quyền lợi của người đầu tư hàng nghìn tỷ đồng và người cân nhắc từng khoản chi cuối tháng
Theo đại biểu Quốc hội Bùi Văn Dũng, một chính sách điện tốt phải nhìn thấy cả người đầu tư hàng nghìn tỷ đồng và người cân nhắc từng khoản chi cuối tháng. Khi người dân hiểu vì sao phải trả, được bảo vệ lúc khó khăn và nhận được điện ổn định, cải cách mới có sức thuyết phục bền vững.
Điện ổn định, giá hợp lý góp phần tăng trưởng hai con số
Ngày 3/11, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực.
Đại biểu Quốc hội Bùi Văn Dũng (Đoàn Thanh Hoá) cho rằng, điện là đầu vào của nền kinh tế, cũng là ánh sáng trong mỗi mái nhà. Một quyết định về giá điện tác động đến chi phí sản xuất, bữa cơm gia đình và khả năng chăm sóc người bệnh. Vì vậy, sửa luật phải đồng thời trả lời: làm sao có đủ điện, thu hút được đầu tư và phân chia chi phí công bằng?
Theo ông Dũng, an ninh năng lượng đòi hỏi nguồn, lưới điện đồng bộ, dự phòng đủ mạnh. Điện ổn định, giá hợp lý góp phần hỗ trợ sản xuất, tăng trưởng hai con số. Dự thảo mở thêm cơ chế đầu tư; cần gắn với kiểm soát chi phí và trách nhiệm giải trình.

Điểm b khoản 12 Điều 5 dự kiến quy định Nhà nước có cơ chế bù đắp chi phí hợp lý khi chưa kịp điều chỉnh giá. Tuy nhiên, ông Dũng đề nghị, cần làm rõ ai trả, khoản nào, nguồn nào, trong bao lâu. Điểm c khoản 4 Điều 3 Luật Giá quy định giá điện và giá dịch vụ về điện thực hiện theo pháp luật điện lực. Vì vậy, giới hạn bù đắp cần được xác lập trong Luật Điện lực. Đề nghị bổ sung tại điểm này nguyên tắc: chỉ bù đắp chi phí hợp lý, hợp lệ, được kiểm tra, chưa thu hồi; loại trừ khoản đã được hỗ trợ và chi phí do lỗi quản lý. Giao Chính phủ quy định nguồn, thời hạn, phương thức và công khai kết quả. Nếu sử dụng ngân sách, phải đáp ứng điều kiện chi tại khoản 2 Điều 12 Luật Ngân sách nhà nước. Đồng thời, thể hiện thống nhất nguyên tắc này trong cơ chế điều chỉnh giá tại Điều 52.
"Giá bán lẻ điện bình quân giảm 2% từ ngày 1/11/2026. Luật cần bảo đảm người dân thực sự hưởng lợi từ tiết kiệm chi phí và hiệu quả quản trị”, ông Bùi Văn Dũng nêu rõ.
Xây dựng khung giá phát điện phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý
Theo đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình (Đoàn Hưng Yên) cần xây dựng khung giá phát điện kịp thời, khách quan, phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý và đủ sức thu hút đầu tư.
Thực tế, khi xây dựng phương án khung giá năm 2026, EVN sử dụng thông số dự án mẫu có báo cáo nghiên cứu khả thi được phê duyệt từ năm 2023, trước khi Luật Đất đai mới ban hành. Trong khi đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ mới làm tăng đáng kể chi phí giải phóng mặt bằng, hỗ trợ hạn chế sử dụng đất trong hành lang cánh tua-bin gió và tổng mức đầu tư. Nếu giữ nguyên dữ liệu cũ, khung giá sẽ không phản ánh đúng điều kiện đầu tư hiện nay.

Bà Bình đề nghị bổ sung tại khoản 3 Điều 51 nguyên tắc cập nhật dữ liệu theo năm áp dụng, công nghệ và địa bàn, tính đầy đủ chi phí hợp lý, hợp lệ, đặc biệt các nghĩa vụ đất đai. Chính phủ quy định phương pháp cập nhật, xử lý biến động chi phí do thay đổi chính sách và kiểm soát việc tính trùng.
“Phương án khung giá cần do đơn vị có năng lực, độc lập với lợi ích thương mại của bên mua điện xây dựng; EVN cung cấp dữ liệu, Bộ Công Thương tổ chức thẩm định, phê duyệt. Khung giá hằng năm phải công bố chậm nhất trong quý I, kèm cơ chế chuyển tiếp nếu chưa ban hành khung mới”, bà Bình nói.
Đồng thời nhấn mạnh thước đo của lần sửa luật này là nguồn điện thực sự đi vào hệ thống. Đề nghị các quy định phải đủ rõ về trách nhiệm, kịp thời về giá và khả thi để huy động vốn, đưa các mục tiêu quy hoạch thành động lực tăng trưởng.
Thận trọng với lộ trình giá điện sinh hoạt theo giờ
Cho rằng cần thận trọng với lộ trình giá điện sinh hoạt theo giờ, ông Bùi Văn Dũng ghi nhận nội dung này được bổ sung tại điểm b khoản 1 và điểm c khoản 3 Điều 50. Giá theo giờ có thể khuyến khích dịch chuyển tiêu dùng, giảm áp lực đầu tư nguồn và lưới. Nhưng công tơ đo được thời gian chưa có nghĩa mọi gia đình đều có khả năng thay đổi thời gian sinh hoạt.
“Một cơ sở sản xuất có thể sắp xếp ca máy; gia đình công nhân tan ca buổi chiều khó chuyển bữa cơm, giờ học của con sang đêm khuya. Cùng một tín hiệu giá, khả năng thích ứng rất khác nhau”, ông Dũng nêu vấn đề, đồng thời đề nghị bổ sung điều kiện thực hiện vào điểm b khoản 1 Điều 50: thí điểm, đánh giá tác động theo nhóm hộ; công khai cách tính; đo đếm chính xác và giải quyết khiếu nại.
Cần tính thử, gửi hai phương án hóa đơn theo dữ liệu thực tế để người dân so sánh; làm rõ quan hệ giữa giá theo giờ và giá bậc thang. Đây là cách cụ thể hóa quyền được cung cấp thông tin tại khoản 2 Điều 4 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Bên cạnh đó hỗ trợ phải đến được người cần hỗ trợ. Dẫn chứng tại Singapore công khai các thành phần giá điện, đồng thời hỗ trợ hóa đơn điện, nước và dịch vụ tiện ích cho hộ đủ điều kiện. Cách làm này minh bạch chi phí cung ứng và khoản hỗ trợ. Từ đó với Việt Nam, theo ông Dũng cần chú ý người thuê trọ, hộ khó khăn chưa đứng tên hợp đồng điện; không để thủ tục khiến hỗ trợ dừng ở chủ công tơ.
Đặc biệt theo vị đại biểu Đoàn Thanh Hoá, thu hút đầu tư gắn với trách nhiệm bảo đảm cung ứng điện. Theo dự thảo, khoản 55 Điều 4 đã gắn giá công suất với khăn năng sẵn sàng cung cấp. Với nhà máy điện đối tác công tư, đề nghị bổ sung tại điểm b khoản 1 Điều 51 nguyên tắc kiểm chứng khả năng này, giảm trừ thanh toán khi không đáp ứng cam kết và không tính trùng chi phí giữa các thành phần. Nhà đầu tư cần cơ chế thu hồi vốn rõ ràng; người mua điện cần chất lượng cung ứng tương xứng.