Chuẩn bị tốt khi tham gia FTA
Sáng ngày 25-6, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch tổ chức hội thảo “Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU: Hàm ý đối với cải cách chính sách và thể chế”. Một câu hỏi được quan tâm tại đây là: liệu Việt Nam có trở thành công xưởng cho các nước tham gia FTA?

Ảnh minh họa
Hai thập kỷ qua chứng kiến sự phát triển mạnh trong quan hệ kinh tế và thương mại song phương giữa EU và Việt Nam. Các vòng đàm phán cho Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (FTA Việt Nam - EU) được khởi động từ tháng 6 năm 2012 và cho đến nay đã trải qua 12 phiên đàm phán chính thức. Khác với những hiệp định thương mại tự do trước đây, FTA Việt Nam - EU được nhìn nhận là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, với mức độ cam kết sâu rộng. Các cam kết không chỉ dừng lại ở việc cắt giảm thuế quan, tạo thuận lợi thương mại mà còn liên quan đến vấn đề đầu tư, môi trường, cạnh tranh, phát triển bền vững.
Lợi ích mang lại từ FTA Việt Nam - EU là rất lớn do hàng hóa từ Việt Nam có tính bổ sung cao với thị trường EU (dệt may, dày dép, thủy sản…), GDP tăng thêm 7-8% vào năm 2025. Xuất khẩu của Việt Nam sang EU cũng tăng khoảng 10%.
Nhưng, Hiệp định cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt là sức ép đối với môi trường đầu tư, đảm bảo tuân thủ các quy định liên quan đến lao động, môi trường. Các DN tới đây sẽ buộc phải đổi mới công nghệ, tăng cường năng lực cạnh tranh, nâng cao tiêu chuẩn, chất lượng…
Ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM nhấn mạnh, lợi ích từ các hiệp định tự do thương mại không phải là điều hiển nhiên mà phụ thuộc rất nhiều vào đổi mới thể chế và chính sách nhằm biến các thách thức thành cơ hội, biến cơ hội thành lợi ích thực sự. Nói cách khác, thực hiện Hiệp định này sẽ đòi hỏi Việt Nam có những thay đổi quan trọng trong cơ chế chính sách và thể chế, nhằm tối đa hóa tác động tích cực cũng như giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra cho nền kinh tế.
Bà Trần Thị Thanh Tâm, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ DN nhỏ và vừa VCCI thẳng thắn trình bày quan điểm: Vai trò của cơ quan quản lý rất quan trọng trong việc định hướng cho cộng đồng DN. Giá thành sản phẩm của DN nhỏ và vừa tại Việt Nam cao, việc kiểm soát chất lượng sản phẩm vì vậy gặp nhiều khó khăn. Chính phủ cần cung cấp thông tin thị trường cho doanh nghiệp, các thông tin về hàng rào chống bán phá giá, nâng cấp thông tin thị trường cho doanh nghiệp Việt Nam. Làm sao để sản phẩm xuất khẩu tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu, mang lại nhiều giá trị hơn khi đơn thuần chỉ là công xưởng cho các nước tham gia FTA.
Nhưng có một thực tế đang diễn ra, trong suốt quãng thời gian từ năm 2002 – 2010, phần lớn các lô hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU bị từ chối do không đáp ứng được các yêu cầu về kiểm dịch, nhiễm khuẩn, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Rào cản về phi thuế quan đang được hâm nóng hơn bao giờ hết khi câu chuyện quả vải thiều được chuẩn bị rất kỹ càng để xuất bán sang Mỹ, ÚC, EU nhưng số lượng được xuất bán chiếm tỷ lệ quá thấp so với sản lượng vải của cả nước. Trong khi phía Việt Nam không thể yêu cầu các nước ký kết FTA phá bỏ rào cản, vậy DN Việt cũng như cơ quan quản lý phía Việt Nam sẽ phải điều chỉnh chính sách như thế nào để tiệm cận với các yêu cầu kỹ thuật từ nước bạn?
Giáo sư Arikoko, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu châu Á Trường Đại học kinh doanh Copenhagen cho rằng cơ hội lớn khi Việt Nam ký kết các FTA là sản phẩm được gia nhập vào nhiều thị trường. Các nước cũng sẽ tăng cường đầu tư vào Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam cần phải hài hòa hóa các tiêu chuẩn riêng để tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Theo ông Jonh Nielsen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam, FTA sẽ đem đến nhiều cơ hội cũng như thách thức, đặc biệt đối với những nền kinh tế đang phát triển. Những thách thức mà các nước phải đối mặt là nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh; cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư; mở rộng thị trường.