Báo Đại Đoàn Kết Góc nhìn Đại Đoàn Kết

Chuyện con vịt và 49 ly cà phê

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Chuyện con vịt và 49 ly cà phê

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Chuyện con vịt thịt ở VN hiện nay đang mất đi 30% giá trị do chủ yếu chỉ luộc và quay hay chuyện người nông dân trồng ra hàng triệu tấn cà phê mỗi năm vẫn khổ vì giá một ly cà phê do chính họ làm ra lại do nước ngoài nhập khẩu cà phê của ta bán tới vài USD đang cho thấy thực trang buồn của nông nghiệp Việt Nam.

Chuyện con vịt và 49 ly cà phê

Vịt thịt mất đi 30% giá trị do chủ yếu chỉ luộc và quay.

Tại Hà Nội, mới đây đã có cuộc Hội thảo về chủ đề nông nghiệp Việt Nam trước thềm Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được thông qua. Báo cáo công bố tại Hội thảo nhận định, gia cầm là vật nuôi có nhiều lợi thế nhất trong ngành chăn nuôi nhưng việc phát triển còn nhiều hạn chế. Qua khảo sát, có đến 60 - 70% mô hình chăn nuôi ở quy mô nhỏ lẻ, thiếu tính liên kết giữa sản xuất và thị trường, hiệu quả kinh tế không cao. Chất lượng và sự phát triển của con giống còn chậm đang là những điểm yếu cố hữu của ngành chăn nuôi Việt Nam cần phải khắc phục.

Tham gia Hội thảo, TS Dương Xuân Tuyển, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm (VIGOVA) dẫn lời một doanh nhân nước ngoài đã nói: “Riêng con vịt thịt ở VN hiện nay đang mất đi 30% giá trị do chủ yếu chỉ luộc và quay”. Nhận xét này cho thấy cái yếu của chăn nuôi Việt Nam là thiếu một nền công nghiệp chế biến, và không chỉ riêng với con vịt cũng như không chỉ với chăn nuôi.

Thật vậy, đâu chỉ có con vịt bị lép vế mà hạt cà phê Việt Nam cũng chung số phận. Khi bán 1 kg cà phê nhân ra nước ngoài, chúng ta thu khoảng 2 USD, tương đương giá trung bình 1 ly cà phê ở các nước nhập khẩu cà phê của ta! Trong khi mỗi kg cà phê nhân có thể pha được 50 ly cà phê. Cái chúng ta mất không chỉ dừng ở 49 ly cà phê còn lại trong 1 kg nhân nói trên mà còn mất thêm việc không ai biết đến cà phê Việt ngay cả khi họ đang nhấm nháp nó.

Nên về khối lượng, cà phê Việt Nam chiếm 20% thị phần thế giới, nhưng về giá trị chỉ bằng khoảng 2% giá trị thị phần cà phê thế giới. Với 95% sản lượng xuất thô, dù là một trong những nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, cà phê Việt Nam vẫn không có dấu ấn thương hiệu. Thế thì người nông dân trồng ra hàng triệu tấn cà phê mỗi năm vẫn khổ vì giá một ly cà phê do chính họ làm ra lại do nước ngoài nhập khẩu cà phê của ta bán tới vài USD.

Theo một nhận định khác có tính khái quát hơn, giá xuất khẩu nông sản Việt Nam chỉ bằng 65% so với giá bình quân thế giới, đó là nhận xét của GS Nguyễn Quốc Vọng, Đại học RMIT, Melbourne, Australia.

Từ các dẫn chứng trên, đã quá rõ là việc xuất khẩu nông sản Việt đang cần một sự thay đổi lớn hay nói cách khác cần tái cơ cấu nền nông nghiệp mà trước hết là một quá trình đổi mới tư duy của nông dân. Đó là điều vừa bức thiết vừa khó khăn. Trước hết là về quy mô. Cho đến bây giờ sản xuất nông nghiệp vẫn là manh mún, nhỏ lẻ, chưa gắn kết với thị trường nhất là thị trường thế giới, một cố tật của nông nghiệp nước ta. Đất nhỏ hẹp, vốn không có làm sao nông dân có thể làm khác hơn?

Và căn bệnh được mùa rớt giá do lệ thuộc vào thương lái, đồng thời dịch bệnh ở một nước nóng ẩm thì chăn nuôi thủ công rất khó vượt qua do không có khả năng phòng tránh và điều trị. Gần đây, một mô hình chăn nuôi khép kín theo kiểu liên kết chuỗi của một tư nhân ở Tây Nguyên trở thành một thí điểm cần tham khảo. Nhưng nhân rộng mô hình này thành tổ chức trang trại theo hình thức góp đất như góp vốn là một quá trình vận động, tuyên truyền, cơ chế chính sách thuộc chức năng của bộ tư lệnh ngành nông nghiệp. Đồng thời việc tạo liên kết chuỗi đòi hỏi sự nhập cuộc của các doanh nghiệp thay vì họ chỉ làm công việc thu mua như hiện nay.

Trong quá trình tái cơ cấu này, các doanh nghiệp còn ngại đầu tư vào nông nghiệp vì đó là một lĩnh vực nhiều rủi ro, vì thế thường họ chỉ mua nông sản và xuất khẩu cho chắc ăn! Thu hút doanh nghiệp đầu tư sẽ có lợi nhiều vì họ có vốn, có tầm nhìn và năng lực xây dựng công nghiệp chế biến nông sản thành phẩm xuất khẩu. Cái mới ở đây là tạo ra liên kết chuỗi giá trị, để từ đó người nông dân sẽ trở thành một trong những khâu trong sản xuất mà không phải lo âu về đầu ra, cuộc sống của họ sẽ không bấp bênh như hiện nay.

Làm một xã viên hay một công nhân nông nghiệp vừa làm chủ và “ăn lương” chắc hẳn cuộc sống của nông dân sẽ thay đổi căn cơ hơn là làm chủ một mảnh đất, một ao cá, một đàn vịt chạy đồng mù mịt định hướng như hiện nay. Khi ấy con vịt sẽ không mất 30% giá trị và 1 kg cà phê không mất 49 ly cà phê khi có mặt một cách vô danh (vì không có thương hiệu) trên thị trường thế giới!

Trong việc nâng tầm cho nông sản Việt Nam này, thiết nghĩ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không chỉ dừng lại ở vai trò vạch chủ trương, cơ chế hỗ trợ mà có lẽ phải có thêm các giải pháp “lội xuống ruộng” cùng với nông dân và doanh nghiệp. Và cũng nên loại trừ dần sự hỗ trợ của Nhà nước bằng tín dụng nhắm vào cá thể thực chất là xoá đói giảm nghèo, mà nên để các trang trại huy động vốn trong dân.

Đây là một cuộc cách mạng trong nông nghiệp và có bài học tham khảo là “cách mạng xanh” rồi “cách mạng trắng” trong chăn nuôi lấy sữa thành công của Ấn Độ vài chục năm trước đây. Đã gọi là “cách mạng” thì không thể tiệm tiến từ từ mà phải là bứt phá, bùng nổ.

Hư Trúc