Chuyện của bà Ngân 'bộc phá'
Trở về sau chiến tranh, thân hình phụ nữ hao mòn bởi những cơn sốt rét, nhưng con người ấy vẫn sống kiên cường như câu chuyện của bà kể về quãng thời gian sống trong rừng Trường Sơn. Người mà tôi nhắc tới là cựu thanh niên xung phong Nguyễn Thị Ngân, đơn vị C352-N37 hiện đang sống tại Ngõ 72, đường Trường Chinh, quận Đống Đa, Hà Nội.
Bà Nguyễn Thị Ngân và cháu nội.
Bà Ngân sinh năm 1947, quê xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Năm 1965, Lúc đó bà chừng 17, 18 tuổi.
Bà kể: Khi có tiếng gọi lên đường nhập ngũ, tất cả mọi người đều xung phong ra mặt trận chứ không riêng tôi. Xã tôi chọn 10 người đi chiến trường. Nghe tin tôi đi, mẹ tôi khóc lắm, bà bảo: Con đi thì mẹ gãy cánh tay phải vì chị dâu tôi yếu, con nhỏ. Hơn nữa 2 người anh trai của tôi cũng ra mặt trận. Tôi vẫn kiên quyết: Không, con tuổi trẻ nên phải ra đi, cánh tay phải của mẹ là nàng dâu của mẹ đấy. Mẹ tôi nghe vậy khóc 3 ngày, bà con hàng xóm an ủi nói trước khi con ra đi mà khóc thì sẽ gặp xui đấy, vậy bà mới nín.
Tôi nhớ, lúc đó lên ga Phủ Lý, bước chân lên tàu, đoàn tàu quay về hướng Nam, nhiều người khóc rưng rức, nhưng riêng tôi không khóc vì luôn giữ niềm tin mình ra đi là chỉ có chiến thắng trở về.
Hồi ở Trường Sơn lẽ ra tôi được về Hà Nội gặp Bác Hồ cùng với chị Ngô Thị Tuyển, nhưng vì gia đình của tôi là đại địa chủ, bố tôi lái tàu Pháp - Anh ở cảng Hải Phòng, ông có tiền mua 20 mẫu ruộng tư điền, xây cất nhà cửa nên bị quy đại địa chủ. Lúc tôi ra đi đã có “án” là như vậy. Do đó tôi quyết tâm rất cao. Khi ở Trường Sơn, mấy lần tôi có trong danh sách được kết nạp Đảng, mấy lần đơn vị cho người về điều tra lý lịch. Người ở quê cũng nói gia đình tôi chấp hành mọi chế độ chính sách , nhưng là địa chủ nên khó phê duyệt. Nhưng anh Giẽ, tiểu đội trưởng lúc đó nói rằng, nếu các anh không phê duyệt, chúng tôi cũng có quyền được kết nạp tại mặt trận vì cô ấy rất anh hùng.
Tại sao tôi lại được tuyên dương, vì đợt đó Mỹ thả rất nhiều bom nổ chậm, mình không phá cùng một lúc mà để thi thoảng nổ một quả thì số người hy sinh sẽ rất lớn. Thời gian làm đường lại đang gấp gáp.Thế nên tôi đã nghĩ ra cách đào hố chọn quả bộc phá xuống, đồng thời ròng 6 dây cháy chậm cách một 100m, rồi đào hầm chui xuống. Tất cả cùng đốt 6 dây cháy chậm, mỗi lần ra đi đều có truy điệu trước. Nhưng lần nào chúng tôi cũng thành công. Lúc đó, thành tích của tôi của tôi là sáng kiến dùng bộc phá để phá bom mìn.
Nhưng không được đi gặp Bác Hồ, tôi có đề xuất một trong 5 người còn lại đi thay. Thủ trưởng Nguyễn Văn Lâu của tôi nói rằng: Em tưởng được gặp Bác mà dễ à? Bác sẽ liên tục hỏi vì đâu cháu có sáng kiến này? Phải làm cụ thể như thế nào. Vậy thì người không nghĩ ra trả lời sao được, như vậy là nói dối Bác. Tất nhiên thành tích là thành tích chung, nhưng cử người khác là không được.
Ở Trường Sơn, gian khổ không kể, nhưng lương thực, thực phẩm vô cùng khó khăn. Muối ăn cuối cùng cũng hết. Gạo cũng hết do lương thực gửi đến đâu bị Mỹ dò tin phá hoại đến đó. Mỹ tuyên bố sẽ tiêu diệt hết quân Trường Sơn bằng cách đánh vào lương thực, thực phẩm.
Anh thủ trưởng bảo với tôi: Chẳng lẽ mình chịu chết đói ở trong này à? Lúc đó, tình thế không thể cứu vãn được gì, qua sông Long Đại đã mất rất nhiều cả người lẫn lương thực. Các anh lái xe còn ví là phà Long Đầu chứ không phải Long Đại. Có nghĩa vào đến đó là chết rất nhanh.
Thủ trưởng cho cho họp lại bày binh bố trận làm gì để sống ở đây để làm tiếp con đường này. Tôi nghĩ ra cách, ngày xưa người ta có nói ở trong rừng rất nhiều củ mài, tại sao không đi tìm củ mài. Tôi đã biết lá của mài, vì hồi ở nhà người mẹ bà rất hay chỉ bảo cho con gái. Đến lúc lên rừng thấy củ mài ăn rất sâu vào đất, đào không biết đến khi nào. Tôi nghĩ cách làm quả bộc phá khoảng 2-3kg, sau đó cho nổ dây cháy chậm, rồi lôi lên cả đống củ mài thích quá. Các anh bảo, đúng cô Ngân có sáng kiến hay. Rồi củ mài cũng hết.
Tôi thoáng nghĩ đến con sông Long Đại. Bao đời nay không có ai ăn cá, nên sông này có những con cá to bằng người. Lúc về sau tôi báo cáo thủ trưởng, cần 1 quả bộc phá vài lạng và dây cháy chậm ném xuống dòng sông để bắt cá. Thôi thì cá nổi lên vô vàn, có những con cá 25-27kg, chúng tôi bắt về xay làm ruốc ăn. Chúng tôi cũng tồn tại thêm được 1 thời gian.
Riêng về những nữ thanh niên xung phong chúng tôi thì tôi còn nhớ mùa đông, chị em phụ nữ phải ăn lá quế trong rừng làm nóng người lên rồi nhảy xuống suối tắm với tốc độ rất nhanh để lên, vì lỡ chẳng may có quả bom tọa độ rơi bất kể lúc nào thì mình sẽ chết phanh thây. Làm gì cũng phải hết sức nhanh, đi tải đạn không được đi bình thường mà phải chạy… nhưng chúng tôi luôn bằng ý chí mọi cách vượt qua.
Năm 1969, chúng tôi sốt rét, 2 tay hai gậy, tưởng như không thể còn tồn tại được nữa. Chúng tôi được ra Bắc và điều trị và sốt đúng 1 năm. Lúc đó, gia đình tôi cũng nghĩ tôi đã chết, vì tôi không viết nổi thư về nhà, họ nghĩ tôi sốt rét chết rồi. Lúc đầu tôi nằm ở Bệnh viện Thanh Hóa, có quyết định cho đi học Đại học Sư phạm. Lúc đó Bác sĩ nói: Chị có nghĩ ở lại chữa bệnh không? Tôi bảo: Có. Sau đó tôi điều trị ở bệnh viện quân đội Hà Bắc, tôi nằm ở đó, ghẻ lở khắp người. Thấy tôi không chịu ăn uống gì, bác sĩ nói: Chị có 99% là chết, chỉ còn có 1% là sống thôi nếu không cố gắng. Tôi lại quyết tâm ăn uống để tăng cường sức khỏe. Rất mừng ngày đó có loại thuốc của Cu Ba viện trợ chống sốt rét, bệnh của chúng tôi giảm dần.
Sau đó, Cục Quản lý ruộng đất tuyển lớp Cao đẳng ngành in vẽ bản đồ, tôi được vào học, quá trình học tập tôi học điểm xuất sắc, đến khi phân công công tác tôi về đơn vị tách vẽ bản đồ trên kính. Sau khi ở đơn vị mấy tháng, tôi có quyết định làm quản đốc phân xưởng công nhân. Trong thời gian phấn đấu, tôi đạt liên tục 6 năm chiến sĩ thi đua của đơn vị. Nhưng ở Hà Nội, tôi lại một mình nuôi 2 con và từ chối rất nhiều cơ hội, quyết tâm làm quản lý ở một đơn vị nhỏ để có thời gian chăm sóc 2 con trưởng thành. Hai con trong hoàn cảnh bố đi làm xa, lương mẹ thì rất thấp song rất mừng hai con tôi đều đỗ đại học và thành đạt. Và giờ thì tôi lại tiếp tục chăm cháu.
... Những ngày ở Trường Sơn đói khổ, mưa rừng gió núi, nước độc rừng thiêng, sốt rét. Ra Bắc cũng chẳng hy vọng được sống. Cuộc đời thăng trầm. Rồi sau một thời gian công tác lại phát hiện bệnh ung thư, bao tiền của dồn hết vào bệnh tật. Nếu không có con cháu hợp lực cứu chữa có lẽ bà Ngân không sống được đến hôm nay. Cuộc đời gian truân là vậy, nhưng bà Ngân vẫn cứ nhớ về quãng thời gian ở Trường Sơn như một kỷ niệm đẹp nhất cuộc đời mình. Bà đọc cho tôi nghe bài thơ nhỏ của một đồng đội:“Ban ngày nghe chim hót/Tối về con suối reo/Nghe tiếng hoẵng lưng đèo/Lòng không buồn chỉ thấy/Yêu con đường cheo leo…”