Báo Đại Đoàn Kết Người Mặt trận

Chuyện thường ngày của một phóng viên Báo Giải Phóng

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Chuyện thường ngày của một phóng viên Báo Giải Phóng

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Là phóng viên Báo Giải Phóng, tôi có vô vàn kỷ niệm trong những chuyến đi viết khi thì ở mặt trận, lúc thì vùng giải phóng, có rất nhiều kỷ niệm với cấp trên, với bạn nghề, nhưng với một bài báo, chỉ xin kể dăm ba chuyện…

Hàng năm, anh chị em từng công tác ở Báo Giải Phóng trở về thăm Bia lưu niệm Báo Giải Phóng trên nền rừng chiến khu xưa.
Hàng năm, anh chị em từng công tác ở Báo Giải Phóng trở về thăm Bia lưu niệm Báo Giải Phóng trên nền rừng chiến khu xưa.

Vừa đi đưa tin chiến dịch giải phóng tỉnh Phước Long và đường 14 (từ  đêm 13/12/1974 đến ngày 6/1/1975) về đến căn cứ thì Tổng Biên tập Nguyễn Văn Khuynh gọi tôi đến lán của ông. Cũng như mọi khi, ông mời tôi cà phê Tây Nguyên và trà B’Lao. Chú Hai Khuynh - lớp trẻ chúng tôi thường gọi thủ trưởng Nguyễn Văn Khuynh bằng cái tên thân mật ấy - biểu dương tôi đã bám sát mặt trận, kịp thời có những bài báo bạn đọc cần, bảo tôi nghỉ ngơi mươi hôm rồi quay lại Phước Long, quay lại Lộc Ninh của tỉnh Bình Long, là quận đầu tiên được giải phóng tháng 4/1972, là nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ông nói: Ban Biên tập có chủ trương bán Báo Giải Phóng vào các vùng giải phóng. Bán chứ không phát không như từ trước đến nay. Phương Hà đến đó vừa để viết về đời sống của đồng bào, nhất là công nhân các sở cao su sau ngày giải phóng, vừa gặp chính quyền cách mạng các xã thăm dò xem có thể bán báo được không, nếu được thì giá khoảng bao nhiêu một số. Xong việc về báo cáo để Ban Biên tập phân công người đi tổ chức đại lý.

Nhiệm vụ thứ nhất thì quá quen thuộc với một phóng viên có mặt nhiều năm ở chiến trường, nhưng nhiệm vụ thứ hai, dù phải vâng dạ vì đó là mệnh lệnh nhưng tôi hoàn toàn không hình dung được, đặc biệt là giá báo.

Vậy rồi nhiệm vụ cũng hoàn thành. Ở các quận (chính quyền Sài Gòn cũ gọi đơn vị hành chính cấp trung gian dưới tỉnh là quận, không phân biệt thành thị hay nông thôn) Phước Bình, Bố Đức, Đức Phong, Đồng Xoài tỉnh Phước Long và ở quận Lộc Ninh, cán bộ các địa phương đều ủng hộ việc mua Báo Giải Phóng, nhưng như chú Hai Khuynh nói, phải có đại lý, mà muốn có đại lý thì phải chi tiền “hoa hồng”. Về giá báo thì hầu hết cán bộ lãnh đạo vùng giải phóng đều cho rằng khó mà nói trước vì đồng bạc của chế độ Sài Gòn cũ đang mất giá, từ 1 USD đổi 277 đồng năm 1970, rồi 1 USD bằng 600 đồng  năm 1972, đầu năm 1974 thì gần 700 đồng mới đổi được 1 Mỹ kim, nên tiền tệ lưu hành thấp nhất phải có mệnh giá từ 5 đồng chứ không như trước 10, 20, 50 xu đều được dùng.

Sau khi nghe tôi báo cáo mọi ý kiến ấy, Tổng Biên tập Hai Khuynh tổ chức bộ phận phát hành. Vì không phải công việc của mình nên thú thật, tôi chỉ biết Báo Giải Phóng là tờ báo kháng chiến thứ hai ở miền Nam phát hành có thu tiền, còn giá bao nhiêu, bán được nhiều ít thì đến nay vẫn không biết. Theo nhà báo Nguyễn Hồ - phóng viên kỳ cựu của Báo Giải Phóng, năm 1964, Báo Chiến thắng của Đảng bộ tỉnh Bến Tre - tờ báo in máy Pedal, ba màu, sắc nét bán 1 đồng tiền Sài Gòn.

Sau mùa khô 1974 ở miền Đông, tôi được phân công đi viết về cao trào đánh trả các cuộc hành quân lấn chiếm lãnh thổ của địch sau Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam ở tỉnh Mỹ Tho - nơi có căn cứ Đồng Tâm của đối phương.

Khi băng qua chót mũi Mỏ Vẹt thuộc huyện Chan Trea, tỉnh Svay Rieng, Camphchia ăn sâu vào Nam Bộ nước ta  để xuống huyện Đức Huệ, tỉnh Hậu Nghĩa (sau này thuộc tỉnh Long An, gần đây là mấy xã của tỉnh Tây Ninh) - nơi có đường dây giao liên vũ trang đưa cán bộ từ R đi công tác Khu 8 vượt Đồng Tháp Mười, vượt lộ 4 (quốc lộ 1A), tôi bị một toán lính Pol Pot vây chặt. Biết gặp nguy hiểm vì hồi đó, quân Khmer Đỏ thường bắt cán bộ, bộ đội ta đi lẻ để cướp súng, nhất là súng ngắn K54, K59, rồi giết, đàn bà con gái thì chúng hiếp tập thể và đòi tiền chuộc. Tôi chuẩn bị “ăn thua đủ” với tốp lính ấy thì may thay, một đơn vị bộ đội ta hành quân qua, đồng chí chỉ huy chắc dày dặn chiến trường Campuchia, đã xông ra giữa đám lính, nghiêm khắc cảnh cáo chúng, nhanh chóng kéo tôi thoát khỏi vòng vây.

Sáng hôm sau, tôi đến được Đức Huệ. Cấp trên đã liên lạc với đường dây giao liên vũ trang nên tôi được một cô gái tên Sáu đón ở bờ nam sông Vàm Cỏ Đông. Dù đã quen với chiến trường Trị Thiên - Huế vô cùng ác liệt, nhưng khi chuẩn bị băng Đồng Tháp Mười, tôi vẫn hồi hộp.

Đã hết một buổi chiều mà chiếc xuồng của chúng tôi chưa đi được bao xa do máy bay trinh sát L19 của đối phương không ngừng quần thảo. Cô Sáu phải neo xuồng giữa rừng tràm, cách tỉnh lỵ Kiến Tường (sau ngày 1/7/2025 thành ba xã của tỉnh Tây Ninh) một tầm chèo mỏi tay. Chưa tối hẳn mà muỗi đã kêu át cả tiếng gió xôn xao đồng nước. Sáu nhóm bếp giữa lòng xuồng, vừa nấu cơm vừa hun muỗi, rồi bê hai nhánh tràm buộc dây câu, bảo tôi lấy trứng kiến vàng trên ngọn tràm làm mồi. Sáu nói trống không: “Cơm chín là dư cá ăn”.

Tôi đã nghe những đồng chí ở Đồng bằng sông Cửu Long công tác tại R (chiến khu C, Bắc Tây Ninh) nói ở Đồng Tháp Mười “cá lền nước như bánh canh”, nhưng khi hai tay một lúc giật hai cần câu cho Sáu gỡ cả chốt, cá lóc, tôm càng xanh tôi mới tin họ không dóc tổ. Cơm vừa sôi, cô Sáu bảo tôi không câu nữa, đã thừa ăn, cứ rộng cá giữa đồng cho nó tươi!

Chiếc xuồng kẹp giữa hai cây tràm to bằng cột nhà rường mà vẫn bị sóng đánh nghiêng ngả, chúng tôi phải tựa lưng vào nhau mới ngồi vững. Cô Sáu nói quê Sáu sát nách tỉnh lỵ Kiến Tường, khi chưa làm giao liên Giải phóng, mùa nước nổi như hiện giờ là Sáu thích nhất, ở đâu cũng bơi được xuồng, ngồi đâu cũng câu được cá; có nước nổi, phù sa về, phèn được xả bớt, năm sau lúa trúng mùa, cây tràm lớn nhanh hơn, cây điên điển mới cho bông vàng hực, cây hẹ nước mới thơm tho nồi lẩu cá linh, cá rô mề.

Tối đó chúng tôi không đi được. Có thể Sáu biết đâu đó trên một cung đường giao liên giữa Đồng Tháp Mười có địch phục kích. Thế là tôi được sống một đêm giữa rừng tràm chỉ có hai người. Trăng sáng vằng vặc bỗng dưng bị mây che, đồng hoang xao động những âm thanh trầm đục, tức tức. Sáu giải thích đó là tiếng cá quẫy vì hoảng sợ bởi bóng mây bất ngờ làm tối mặt nước.

Càng khuya, mùi hương càng nồng nàn, không biết là hương tràm hay  hương nồng ngắn ngủi một nụ hôn dài…

Vất vả, hiểm nguy, nhưng sau một tuần tôi đã tới được Ban chỉ huy Vành đai Bình Đức. Đầu năm 1966, quân Mỹ xây căn cứ thủy bộ lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long sát bờ bắc sông Tiền thuộc xã Bình Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, đặt tên là Đồng Tâm. Căn cứ cấp sư đoàn này khống chế cả một vùng rộng lớn dọc sông Tiền, khống chế cả Đồng Tháp Mười. Vì thế Bộ Tư lệnh Quân khu 8 phải thành lập một lực lượng vũ trang gồm du kích 6 xã Bình Đức, Phước Thạnh, Long Hưng, Song Thuận, Vĩnh Kim, Kim Sơn, bổ sung thêm lính huyện đội, hình thành một vành đai bao vây căn cứ Đồng Tâm, mà khi tôi đến, quân dân ở đây đã trải qua 8 năm đánh địch và tránh địch. Tôi được các đội du kích cho theo phục kích đối phương, được bà con bao bọc trong mấy tháng trời nên đã hoàn thành những bài báo thủ trưởng Hai Khuynh giao.

Phương Hà - Nguyên Ủy viên Ban Biên tập Báo Đại đoàn kết