Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Cơ giới hóa nông nghiệp – đòn bẩy nâng giá trị xuất khẩu nông sản

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Cơ giới hóa nông nghiệp – đòn bẩy nâng giá trị xuất khẩu nông sản

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Trước áp lực từ biến đổi khí hậu, già hóa lao động và yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn xuất khẩu, cơ giới hóa không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tỷ lệ cơ giới hóa chưa đồng đều

Những năm gần đây, cơ giới hóa nông nghiệp đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam.

Theo ông Vũ Văn Tiến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cơ giới hóa không chỉ giúp tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của nông sản mà còn góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch, cải thiện điều kiện làm việc cho nông dân và thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp.

Thời gian qua, việc triển khai Chiến lược phát triển cơ giới hóa nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thủy sản đến năm 2030 đã tạo nhiều chuyển biến tích cực. Không chỉ máy móc được đầu tư nhiều hơn, các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), tự động hóa và drone cũng từng bước được ứng dụng vào sản xuất.

Tuy nhiên, theo ông Tiến, mức độ cơ giới hóa giữa các vùng và các ngành hàng vẫn còn chênh lệch lớn. Năng lực nghiên cứu, chế tạo máy chuyên dùng trong nước còn hạn chế; thị trường dịch vụ cơ giới hóa chưa phát triển tương xứng, trong khi sự liên kết giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và người sản xuất vẫn chưa thực sự hiệu quả.

Đồng quan điểm ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia cũng khẳng định, những năm qua, cơ giới hóa nông nghiệp đã có bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những động lực quan trọng nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và thúc đẩy hiện đại hóa ngành nông nghiệp.

Theo kết quả Tổng điều tra nông nghiệp năm 2025, cả nước có gần 57.800 máy kéo công suất lớn, tăng gần 80% so với năm 2016; hơn 35.400 máy gặt đập liên hợp, tăng gần 38%.

Cùng với đó, gần 7.000 thiết bị bay không người lái (drone), hàng trăm nghìn hệ thống cho chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và nhiều loại máy gieo hạt, máy cấy, máy làm đất đã được đưa vào sản xuất. Riêng trong sản xuất lúa, tỷ lệ cơ giới hóa ở khâu làm đất đạt 89,2%, thu hoạch bằng máy đạt 86,1% diện tích. 

Theo đánh giá sản xuất lúa đã đạt mức cơ giới hóa cao ở khâu làm đất và thu hoạch Ảnh: Chu Khôi
Theo đánh giá sản xuất lúa đã đạt mức cơ giới hóa cao ở khâu làm đất và thu hoạch Ảnh: Chu Khôi

Tuy nhiên, bức tranh cơ giới hóa vẫn tồn tại nhiều mảng màu chưa đồng nhất. Ngành lúa gạo dẫn đầu với tỷ lệ làm đất đạt trên 95% và thu hoạch trên 90%. Trong khi đó, các ngành hàng như cây ăn quả và rau màu vẫn còn ở mức thấp. Thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện là vùng có mức độ cơ giới hóa sản xuất lúa cao nhất cả nước, đóng vai trò tiên phong trong ứng dụng máy móc và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, quá trình cơ giới hóa và tự động hóa trong sản xuất lúa vùng ĐBSCL vẫn phải đối mặt với những khó khăn chung. Báo cáo của Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long chỉ ra “điểm nghẽn” lớn nhất trong cơ giới hóa sản xuất lúa nằm ở khâu gieo sạ, bón phân và quản lý sau thu hoạch.

Cơ giới hóa phải là giải pháp trọng tâm nâng sức cạnh tranh

Thực tế, trước bối cảnh biến đổi khí hậu để nâng sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thế giới, cơ giới hóa nông nghiệp đang chuyển mạnh từ mô hình truyền thống sang cơ giới hóa thông minh dựa trên nền tảng số, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, robot và tự động hóa. Nhiều quốc gia không còn tập trung hỗ trợ người dân mua máy móc mà chuyển sang phát triển thị trường dịch vụ cơ giới hóa, xây dựng các trung tâm dịch vụ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư.

Ông Lê Viết Bình, Phó Chánh Văn phòng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, nông nghiệp Việt Nam hiện đang chịu sức ép từ hạn hán, xâm nhập mặn, lũ lụt, thiếu lao động nông thôn và chi phí đầu vào gia tăng. Vì vậy, cơ giới hóa phải trở thành giải pháp trọng tâm để đổi mới phương thức sản xuất, nâng sức cạnh tranh và thích ứng biến đổi khí hậu.

Theo ông Bình, sản xuất lúa đã đạt mức cơ giới hóa cao ở khâu làm đất và thu hoạch; thiết bị bay không người lái, hệ thống tưới tiết kiệm và cảm biến môi trường ngày càng được ứng dụng. Tuy nhiên, cơ giới hóa vẫn thiếu đồng bộ ở gieo trồng chính xác, thu hoạch rau màu, cà phê, sấy, bảo quản và logistics. Đất đai phân tán, bờ thửa nhỏ, hạ tầng nội đồng hạn chế và dữ liệu chưa liên thông cũng làm giảm hiệu quả vận hành máy móc.

“Giai đoạn 2026 - 2035 cần chuyển từ cơ giới hóa từng khâu riêng lẻ sang cơ giới hóa thông minh theo chuỗi giá trị, trong đó máy móc là công cụ, dữ liệu là nền tảng, chuyển đổi số là động lực, hợp tác xã là hạt nhân tổ chức dịch vụ và nông nghiệp xanh, phát thải thấp là mục tiêu cuối cùng”, ông Bình nhấn mạnh.

Cũng theo ông Bình, người nông dân không thể tiếp tục đầu tư riêng lẻ, mỗi hộ sở hữu một loại máy mà cần liên kết thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác để khai thác hiệu quả hệ thống máy móc, đồng thời tích hợp với chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị từ làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch đến bảo quản, chế biến và tiêu thụ. 

Đồng quan điểm, ông Lê Quốc Thanh cũng cho rằng hiệu quả cơ giới hóa không chỉ được đánh giá bằng số lượng máy móc đầu tư. Kết quả phải thể hiện qua mức giảm chi phí, lao động, tổn thất và phát thải, đồng thời nâng năng suất, thu nhập của nông dân, chất lượng nông sản và sức cạnh tranh của chuỗi giá trị.

Cũng theo ông Lê Quốc Thanh, hệ thống khuyến nông cần làm cầu nối giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và viện, trường. Việc xây dựng mô hình, đào tạo vận hành thiết bị, quản trị dữ liệu và tổ chức dịch vụ sẽ giúp công nghệ được chuyển giao phù hợp với từng vùng. Cơ giới hóa thông minh phải gắn với đổi mới tổ chức sản xuất, phát triển hạ tầng dữ liệu và bảo đảm nông dân là chủ thể hưởng lợi.

Khanh Lê