Cung và cầu
Mới đây thôi, Viện Khoa học lao động và xã hội đã công bố bản tin cập nhật thị trường lao động Quí I-2015, trong đó cho thấy tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm đều có chiều hướng gia tăng. 3 tháng đầu năm cả nước có 1,1 triệu người thất nghiệp, tăng 114 ngàn người so với quý I năm trước. Trong đó, số lao động có trình độ và không có bằng cấp rơi vào tình thế không việc làm đều tăng.

Việc làm đối với thanh niên vẫn là vấn đề khó khăn.
Số lao động có trình độ đại học và trên đại học tăng từ 162 ngàn lên 178 ngàn người; số lao động có trình độ cao đẳng tăng từ 79 ngàn lên hơn 100 ngàn người; còn số lao động không bằng cấp từ gần 630 ngàn lên 726 ngàn. Câu chuyện sinh viên ra trường thất nghiệp không mới và không phải bây giờ mới được nói đến nhưng nỗi lo là, chúng ta đã biết nhưng vẫn chưa thể giải quyết tốt tình trạng này hay nói khác đi là chưa thể khắc phục.
Trong đó, lo ngại hơn cả là số lao động có trình độ chuyên môn; chí ít là cao đẳng chuyên nghiệp và cao đẳng nghề lại có tỉ lệ thất nghiệp cao hơn những năm trước. Nếu tính cả lao động có trình độ từ cao đẳng đến trên đại học thì tổng số lao động có trình độ rơi vào cảnh thất nghiệp là 38 ngàn người. Tính riêng, tỉ lệ cao đẳng chuyên nghiệp và cao đẳng nghề thất nghiệp là 7,2% và 6,9%.
Một lo ngại khác là tỉ lệ lao động trong độ tuổi thất nghiệp cũng ở mức không hề thấp- đến 2,34%, tăng 0,22% so với cùng kỳ năm ngoái. Đó là chưa kể đến tỉ lệ thiếu việc. Tất nhiên, Thứ trưởng Bộ Lao động, thương binh và xã hội (LĐTBXH) Doãn Mậu Diệp lý giải rằng, số thất nghiệp ở nhóm có trình độ là do mới tốt nghiệp, gia nhập thị trường lao động khó khăn và rằng nó chưa phản ánh hết tình trạng thực của lao động nước nhà.
Nói như Thứ trưởng Bộ LĐTBXH thì chứng tỏ một điều, quy hoạch về nguồn nhân lực của chúng ta thật sự không theo kịp thị trường. Vẫn còn cảnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”; vẫn còn cảnh giữa đào tạo và thị trường mỗi nhà mỗi ngả, không có sự bàn bạc, thống nhất; thậm chí, rất có thể chuyện đào tạo theo địa chỉ không được quan tâm và vẫn mạnh ai nấy làm. Thực tế, chúng ta đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới giáo dục và hiệu quả thị trường lao động hai yếu tố tưởng chừng tách rời nhau nhưng thực ra lại rất gắn kết và sẽ góp phần tạo nên năng lực sức cạnh tranh quốc gia. Nhưng nếu chúng ta vẫn cứ mỗi người mỗi kiểu sẽ rất khó khăn, trước hết là cho người lao động sau đó là cho Nhà nước và xã hội với những gánh nặng từ câu chuyện thất nghiệp đem lại.
Trên nghị trường QH đã hơn một lần ĐB Nguyễn Sỹ Cương tha thiết đề nghị: Chính phủ quan tâm hơn nữa việc tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn sinh viên tốt nghiệp hàng năm. Vấn đề thất nghiệp của sinh viên khiến dư luận hết sức quan tâm trong thời gian vừa qua chưa có giải pháp hữu hiệu, các cơ sở đào tạo cứ đào tạo, còn sinh viên ra trường ngày một nhiều mà phần lớn không kiếm được việc làm. “Cử tri than thở với tôi rằng: Nhà nghèo cứ động viên con học để thoát nghèo, nhịn đói, nhịn khát, thậm chí mượn tiền cho con theo học, nhưng học xong không kiếm được việc làm, nghèo vẫn hoàn nghèo, mà còn nghèo hơn vì mang công mắc nợ, thật là nghịch lý”- ông Cương nói về tâm tư của cử tri.
Cũng chẳng phải chỉ có thế, mà từ lâu rồi, việc này đã được cử tri trăn trở, phán ánh nhiều năm nay, tại nhiều kỳ họp QH thông qua các ĐBQH. Trăn trở nhất vẫn là những gia đình có con em đến tuổi lao động, đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng không tìm được việc làm. Thậm chí, những gia đình con em đi học có khó khăn, gia đình nghèo, phải vay tiền để con em đi học giờ không thể tìm việc đã quay ra xin xóa nợ. Ông Nguyễn Thanh Bình, ủy viên Ủy ban Về các vấn đề xã hội đưa ra khuyến nghị với ngành LĐTBXH là cần có giải pháp khả thi hơn, tích cực hơn trong xúc tiến việc làm, tạo thị trường lao động, tạo việc làm, ổn định cho người lao động. Còn, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tích cực hơn, kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng đào tạo đối với các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học, nhất là dân lập và tư thục, để đảm bảo chất lượng, để sinh viên tốt nghiệp ra trường có cơ hội tìm được việc làm tốt hơn.
Tuy nhiên, ở một góc độ khác, ông Bùi Mạnh Hùng, ĐBQH tỉnh Bình Phước lại đề nghị, tạm không đánh giá về số lượng và chất lượng đào tạo, mà hãy nhìn từ khâu sử dụng nguồn nhân lực đến khâu đào tạo theo quan hệ cung cầu. Nói như ông Hùng cũng là vấn đề đáng lưu tâm; vì, hiện thực chất xã hội đã và đang đặt ra việc đặt hàng cho các cơ sở đào tạo và các cơ sở đào tạo đã thực hiện theo đơn đặt hàng đó. Tức là có cầu thì có cung đáp ứng.
Nhưng, vấn đề ở đây là đã có những đơn đặt hàng như thế thì dù thế nào, chúng ta cũng nên có những đánh giá kịp thời thực trạng việc đào tạo và việc sử dụng nguồn nhân lực đã hiệu quả hay chưa; nhất là những lao động được đào tạo theo đơn đặt hàng; từ đó mới tìm ra cách sử dụng nguồn nhân lực làm sao có hiệu quả cao nhất. Thực tế, Báo cáo bổ sung tình hình kinh tế- xã hội năm 2014 cho thấy, trong 14 chỉ tiêu chủ yếu của năm 2014 có 13 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, 1 chỉ tiêu xấp xỉ đạt là tỷ lệ lao động qua đào tạo.
Nhưng, báo cáo chưa làm được cái việc là cụ thể hóa, phân tích, đánh giá sâu hơn về một số vấn đề như: Tỷ lệ lao động qua đào tạo, số lượng, chất lượng đào tạo, vấn đề hướng nghiệp, phân luồng đào tạo, giải quyết việc làm sau đào tạo, năng suất hiệu quả của lao động được đào tạo, thu nhập của người được đào tạo so với người chưa được đào tạo như thế nào, số lao động thất nghiệp sau đào tạo tăng hay giảm, nguyên nhân vì sao? Đào tạo có gắn với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của vùng miền có đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, của thị trường lao động hay không? Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế như thế nào? Nhất là khi nước ta gia nhập cộng động kinh tế ASEAN vào cuối năm nay. Lao động Việt Nam của chúng ta bị thua ngay trên sân nhà khi hội nhập hay không?
Nói cách khác là hàng loạt vấn đề chưa được các ngành liên quan cùng nhau làm rõ. Mà nếu chưa rõ thì rất khó có cái nhìn toàn diện, giải pháp căn cơ sát hợp với câu chuyện đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Và, như thế, trong khâu phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước quả là lỏng lẻo, dẫn đến sự thua thiệt lại nằm về phía người lao động và cả xã hội.