Đà Lạt uyên nguyên
Trong ký ức sâu thẳm của tôi, trước khi nói Đà Lạt ngàn hoa, phải nhận ra Đà Lạt- thành phố của thông xanh, thành phố của sương mù. Vắng thông xanh, vắng sương mù không thể còn Đà Lạt uyên nguyên.
Buổi sáng trong rừng thông.
Chưa ai có thể khẳng định một cách chính xác thông có mặt từ bao giờ trên vùng cao nguyên kỳ lạ này. Chỉ biết rằng thông xanh từng bao phủ hầu hết cao nguyên Lang Biang trong rất rất nhiều năm qua. Thông che chở cho hầu như toàn bộ cuộc sống bình yên của muôn loài có mặt trên vùng đất cao nguyên chập chùng đồi núi. Thông chắn gió bão cho cánh đồng rau non, cho hoa đẹp bốn mùa, thông chắt lọc tiếng ồn, khí thải, tiết ra hương thơm và thu hồi khí thải, làm cho bầu trời trong xanh hơn. Thông nuôi nấng và góp phần mình cho cuộc sống cùng với mỗi con người Đà Lạt.
Đi dạo trong rừng thông chính là những giờ phút tuyệt vời và bình yên nhất trong những ngày tháng của tôi ở Đà Lạt. Những sớm mai khi sương còn lãng đãng trên ngọn thông, tiếng chim gọi bầy vang vọng một góc trời và những tia nắng đầu tiên đến với mặt đất ánh lên cái màu vàng óng ả của mật ong thường mời gọi tôi thong thả đi vào rừng. Nhưng khẩn trương và vội vàng nhất là những đêm cháy rừng. Giữa mùa khô, đêm giá lạnh vẫn thỉnh thoảng xảy ra những trận cháy rừng, ánh lửa bừng lên đỏ rực một góc trời. Dù trong bất cứ tình trạng nào, khi nhìn thấy ánh lửa đỏ rực bùng lên trong khu vực rừng thông của mình, chúng tôi (tôi và những nông dân trồng rừng) đều phi như tên bay lập tức tiếp cận khu vực khẩn cấp để tìm cách kiểm soát ngọn lửa.
Những năm tháng sống với thông và nhìn thông lớn lên, tôi nhận ra khá nhiều bài học về sự sống còn từ một loài cây đặc trưng trên vùng cao nguyên Lang Biang độc đáo.
... Nhưng với tôi Đà Lạt còn là thành phố của sương mù và của mưa. Thành phố của khói sương lãng đãng, “Đà Lạt khói sương” như một bài hát mà mọi người Đà Lạt hầu như ai ai cũng biết tới: “Đà Lạt buồn trong khói sương/ngập hồn anh ngàn nỗi yêu thương/lòng anh ôm ấp bao đêm/mối tình êm rất êm…”.
Đôi khi giữa những ngày nắng trong veo ta lại cảm thấy thiếu một cơn mưa ào ạt, mang mây sà xuống đồi, mang cái huyền ảo, mộng mơ trả lại cho Đà Lạt. Mưa Đà Lạt từng hạt to, trong như ngọc, không vẩn bụi.
Mưa mang mùi thông xanh ngái, mùi đất bazan nồng nàn, rừng rực; mùi lá sú dập nát, mùi hành hoa ngan ngát; mưa ở hồ Xuân Hương nưng nức mùi cá tanh, mùi tảo xanh hăng hắc; mưa trên đèo có mùi thơm lừng của đá, của hơi đất phả ra; mưa trong quán cà phê lại có mùi ẩm ướt của quần áo và hương cà phê moka đậm đặc. Không ít người còn nghe thấy cả trong mưa Đà Lạt mùi hương của tóc, của làn da khét nắng tràn đầy sức sống của dân phượt; hoặc mùi hương riêng biệt từ đôi môi của người bạn đồng hành đang co ro thả hồn theo mưa, say đắm với mưa trong một góc nhỏ ấm áp bất chợt nào đó...
Lòng tôi luôn xao xuyến bởi một đám khói mù khơi lênh đênh trên mặt hồ, mỏng manh như hơi thở của trời đất lúc chập choạng cuối hoàng hôn hay chớm bình minh. Tôi mặc dù cũng luôn bị mê hoặc khi đứng trước bức tranh thiên nhiên kỳ thú có cảnh núi non xanh biếc dưới bầu trời quang đãng, không gợn một bóng mây. Nhưng sự mê hoặc đó sẽ không giữ được lâu khi trong không gian tĩnh lặng lại thiếu đi những áng mây mờ ảo, những dải sương óng ả giăng giăng trên rừng thông lặng lẽ…
Khi mọi vật bị làm cho mờ ảo, lung linh hơn bởi cái không gian đầy sương lãng đãng, sức quyến rũ của bức tranh càng gia tăng và như hút hồn lữ khách cô đơn đắm chìm vào trong cái mê cung đó. Ta như rơi vào trong một trạng thái huyền ảo, một cõi mơ hồ, bâng khuâng giữa hư và thực, mọi thứ ta nhìn thấy dường như có, dường như không. Nó kích hoạt khả năng tưởng tượng và liên tưởng. Nó hút ta vào ngày một sâu thẩm hơn trong chính sự biến đổi huyền ảo không ngừng của nó. Rồi bất ngờ nhận ra ta chính là một phần của bức tranh kỳ vĩ ấy.
Ta bắt đầu khám phá ra những hang động bí ẩn, những cánh rừng hoang sơ và cả những bông hoa dại chưa từng ai ngắm nhìn. Từ trên đỉnh núi cao tít mù có một ngọn thác trắng xóa đang đổ xuống làm tung toé những hạt bụi óng ả xao động cả nắng chiều. Những rặng thông rì rào, thảm lá thông êm ái, mùi nhựa thông hăng hắc mà ngọt ngào quyến rũ, quyện trong cái không gian dường như có dường như không khiến ta nhớ mới những vóc dáng, những mùi hương quen thuộc từng làm trái tim ta thổn thức…
Rồi nhận ra không chỉ có trái tim ta mà còn bao nhiêu nỗi nhớ và tình yêu của rất nhiều trái tim yêu thương khác cũng từng quyện lấy cái không gian này. Những con người dường như có dường như không đã đến đây một lần rồi đi về nơi xa xôi mãi mãi… Mà hình như ta còn nhìn thấy hình bóng của họ vẫn còn đang lãng đãng mơ hồ trong khói sương chiều nay. Một trong những hình bóng sẽ mãi còn lãng đãng với khói sương Đà Lạt chính là thi nhân Hàn Mặc Tử, chỉ vì vừa khi nhìn thấy Đà Lạt là ông biết ngay rằng:
Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu,
Trời mơ trong cảnh thật huyền mơ.
Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt,
Như đón từ xa một ý thơ.
Đà Lạt. Làm sao ta có thể diễn tả được nó chỉ trong một bức tranh đóng khung bằng vài tấm gỗ và giấy! Cho dù bạn có là một họa sĩ tài ba biết thu lấy cái hồn của Đà Lạt thì cũng chỉ có thể thấu hiểu được nó trong một khoảnh khắc thật mông lung. Như ta nhìn thấy cuộc đời ngắn ngủi của một chú thiêu thân bay qua ánh sáng của ngọn đèn leo lét. Và dường như sự thấu hiểu đó lại không thể chia sẻ một cách trọn vẹn với bất kỳ ai và với bất kỳ cách thức hay hình thức nào. Đó chỉ có thể trọn vẹn là một cảm xúc riêng tư, một sự thấu hiểu thinh lặng và thẩm thấu vào bên trong.
Một khu trung tâm thương mại hoành tráng đang mọc lên trên sườn đồi, ngăn cách giữa không gian thoáng đãng phóng khoáng giữa chơ, hồ và những dãy phố lúp xúp trên đồi... Bức tranh bị cắt vụn và mỗi người hình như chỉ còn nhìn thấy cái... mũi của mình trước khi nhìn thấy một Đà Lạt trong mắt của những nhà quy hoạch và kiến trúc tài năng trong quá khứ...
Đà Lạt ở góc nhìn này xem ra chẳng có liên quan gì tới hai cây thông cổ thụ vừa bị cắt cụt bên bờ hồ Xuân Hương để dọn chỗ cho những gian hàng trong một khu hội chợ. Nó đang căng mình ra, trương lên như một cơ thể thừa thãi sức sống, nó giàu có và đang tìm cách phô trương. Sự phô trương của nó khiến tôi nghĩ lại, bùng nổ dân số và nhà cửa mấy năm gần đây của Đà Lạt không thể nói không liên quan tới chuyện hai gốc thông cụt ở bên kia hồ. Những con đường đầy thông xanh vi vu ngày xưa, nay đã biến mất không phải dần dần mà thật bất ngờ, thật nhanh chóng đến kinh ngạc.
Trong ký ức sâu thẳm của tôi, trước khi nói Đà Lạt thành phố ngàn hoa, phải thấy Đà Lạt - thành phố của thông xanh, thành phố của sương mù. Vắng thông xanh, vắng sương mù không thể còn Đà Lạt uyên nguyên. Khi còn nhỏ, nói đến Đà Lạt là tôi nghĩ ngay tới những ngôi nhà gỗ xinh xinh trong rừng thông bảng lảng sương mù. Sương mù của Đà Lạt không chỉ là sương mù của đất trời mà còn là sương mù của huyền thoại. Ngày còn ngồi trên giảng đường, tôi có những cô bạn sinh viên dân gốc Đà Lạt học cùng lớp trông giống như những cô gái bước ra từ cõi mộng hoang đường với đôi má hồng và đôi mắt nai long lanh kỳ lạ.
Tiếng thông reo là một trong những tặng vật tuyệt diệu mà tạo hóa đã ưu ái dành cho Đà Lạt. Nguyễn Du từng mong ước: “Hà năng lạc phát quy lâm khứ, Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân” (Làm sao xuống tóc vào rừng/ Nghe thông reo gió vang lừng tầng mây). Nguyễn Công Trứ cũng từng cầu khẩn: “Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.
Đà Lạt có thể mất đi thác ghềnh, mất đi ngàn hoa và có thể mất đi nhiều thứ khác, song với tôi, nếu không còn rừng thông xanh ngắt lãng đãng trong sương và tiếng thông reo vang lừng xao động mấy tầng mây thì có lẽ kiếp sau phải bắt chước cụ Nguyễn Công Trứ cầu xin ông Trời cho được làm cây thông đứng giữa Đà Lạt mà reo. “Ai mà chịu rét thì trèo với thông”, vậy!