Đà Lạt với nhà thơ Vương Tùng Cương
Năm rồi, cùng các nhà thơ Hoàng Cát, Vũ Từ Trang, Nguyễn Thanh Lâm… chúng tôi có chuyến lên Đà Lạt. Mục đích thì nhiều nhưng chủ yếu đến thăm một bạn chung, nhà thơ Vương Tùng Cương- người trước đây nhiều năm đã bỏ Hà Nội để tính sống lâu dài cùng Đà Lạt.

Nói đến nhà thơ Vương Tùng Cương bạn bè nhiều ngươi nhớ tới các tập thơ “Bàn tay năm tháng”, “Lứa tầm xuân”, “Giấc mơ lửa ấm”, “Hoa lối sân chùa”… Vương Tùng Cương từng nhận giải cao nhất trong cuộc thi thơ do Hội Nhà văn TPHCM và tạp chí Kiến thức ngày nay tổ chức với bài “Ngõ tiếng chim cây khế”. Và mọi người còn không quên nhắc đến bài thơ “Nghe mưa” của anh đã được chọn in trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1945 - 2000.
Mảnh đất Đà Lạt luôn đầy hấp dẫn. Rất nhiều người ước mong một dịp may mắn nào có dịp để được sống ít ngày với khí hậu mát mẻ bốn mùa, hoa trái quanh năm, con người hiền hòa, cuộc sống cảm giác như chẳng chút vội vã, hối hả. Miền đất khiến con người ta rất dễ bỗng trở nên lãng mạn khi nào… Nhưng nặng lòng với thành phố ngàn hoa có lẽ trước tiên phải là các nhà thơ, những người vốn dĩ có trái tim mỏng manh dễ xao động, dễ ngã lòng trước cái đẹp. Mà Đà Lạt thì biết bao những điều để xao động? Vương Tùng Cương từng tâm sự, những ngày đầu tới Đà Lạt anh phải dành ra nhiều ngày chỉ để được thả bộ trên các con đường thoai thoải, nơi có những bụi dã quỳ hoang dại nở vàng dọc hai bên đường. Rồi anh còn tìm tới những ngôi biệt thự có tuổi đời hàng trăm năm đang ngày một khiêm nhường ẩn sâu giữa sắc vàng mimôda và những cô gái luôn thong thả chậm bước dù trời đang có mưa bay.
Khi xác định đến sống lâu dài với Đà Lạt, Vương Tùng Cương tâm nguyện: “Xin giã từ tất cả/ bổng lộc/ quyền danh/ và những cuộc tình/ Đà Lạt cho ta về cõi vô vi/ một đời khát vọng đi tìm/… Nơi đây, miền đất được coi là thích hợp với bệnh tình của một người phụ nữ nhan sắc, tài hoa và đằm thắm mà anh rất mực yêu thương. Một cứu cánh cuộc đời không mấy suôn sẻ của anh. Ngày còn ở Hà Nội, người phụ nữ nhan sắc và tài hoa ấy được phát hiện là đang chớm ủ trong mình một hiểm bệnh mà theo những người thân quen mách bảo thì chỉ khí hậu Đà Lạt hy vọng mới giúp chữa trị. Vậy nhưng tất cả sự chăm lo, tất tả của Cương chỉ có thể giúp anh níu giữ được người đàn bà ấy thêm được ít năm. Chữa được bệnh nhưng ai chữa được mệnh. Chị qua đời khi tuổi đời còn trẻ, đang còn rất nhiều dang dở trách nhiệm và ước vọng. Cái chết dù đã được báo trước nhưng vẫn làm cho nhà thơ hụt hẫng, chới với đến tan nát: “Sau cơn đau em cười héo hẳt/ Nắng xua tan sương lạnh trước thềm/ Nhè nhẹ nâng bông hoa tàn tím buốt/ Hoa bừng sắc nắng nắm tay em/ Hương đã đốt và vàng đã hóa/ Lời nguyện cầu gởi cõi xa xăm/ Em lặng phắc chiều mưa tầm tã/ Mây chuyển vần gió nổi cơn giông/ Ngàn xác lá không chọn tìm đất rụng/ Tan tác bay về phía không cùng”.
Người khác chẳng nói, Vương Tùng Cương vốn dĩ là con người có trái tim bỏ ngỏ vậy mà cái chết của người đàn bà như đã biến anh thành một con người hoàn toàn khác.
Tang lễ xong, một phần cốt sau khi hỏa táng được đưa về Thái Nguyên quê nhà của người quá cố. Còn một phần được Cương giữ lại rải xuống hồ Tuyền Lâm, nơi anh và người phụ nữ kia có một căn nhà gỗ nhỏ bên hồ, mà họ từng có những ngày tháng tuyệt vời hạnh phúc.
Khi Cương quyết định ở lại lâu dài cùng Đà Lạt, những người hiểu rõ nói rằng, Cương còn muốn trốn chạy khỏi những mảnh đất đã từng gây cho anh nhiều phiền muộn, từng gợi cho anh quá nhiều khổ đau. Cương quyết định không về Bắc Giang nơi anh sinh trưởng và đã có nhiều năm tuổi thơ sống hạnh phúc cùng vợ con, rồi sau này anh đang có một chức sắc nho nhỏ của ngành văn hóa địa phương. Anh có góp công trong việc làm sống dậy một nghề truyền thống Kinh Bắc, làng tranh Đông Hồ. Nhưng cái chết oan uổng sau tai nạn từ một chiếc xe tải đang đi dưới lòng đường bất ngờ lao lên hè, nơi có con anh và bạn bè của chúng đang liên hoan để tiễn bạn ngày mai về Hà Nội học. Vậy mà chỉ mình cậu con trai anh hứng chịu. Sau đó cùng việc qua đời của người vợ hiền dịu, một cô diễn viên hát chèo nức tiếng đất Hà Bắc ngày ấy, có với anh hai người con, một gái, một trai khi ấy chị cũng đang vướng trọng bệnh ung thư đã thực sự làm anh hụt hẫng. Anh cũng không về Hà Nội, nơi anh còn có một cô con gái đang công tác tại một trường nghệ thuật và cũng là nơi anh đã có những năm tháng công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam. Anh muốn trốn chạy khỏi Hà Nội để không dám trực diện với đứa con gái thông minh đang tuổi lớn vì sự cấm cản cực đoan của chính người mẹ đứa trẻ, một người đàn bà làm thơ, làm báo tên tuổi đã chia tay anh sau những năm tháng cùng anh chung sống.
Ở Đà Lạt, Vương Tùng Cương phải tự đi chợ nấu cơm, rồi xoay trần trồng rau, nuôi gà cải thiện bữa ăn hàng ngày. Riêng ngôi nhà nhỏ được anh giữ gìn như khi người bạn gái còn sống. Vẫn bài trí ấy, sắp xếp ấy, những bức ảnh chụp chung hai người và những tranh vẽ của chị vẫn được treo trên các mảng tường. Những kỉ niệm đã níu kéo trái tim anh. Một căn phòng trên lầu đã được Vương Tùng Cương lập bàn thờ để ngày ngày anh tiện thắp hương.
Gặp Vương Tùng Cương ngày ấy thấy anh ít nói, cử chỉ chậm chạp, rất lười xê dịch. Những người thân đều biết anh vốn dĩ là một người nhanh nhẹn, hoạt ngôn, thậm chí được coi là người ăn nói táo tợn, bất kể ai anh cũng bỡn cợt chẳng chút kiêng dè. Những tưởng như Vương Tùng Cương không bao giờ biết nỗi buồn là gì.
Nhưng Vương Tùng Cương là người luôn nặng lòng với phụ nữ, dù trong quá khứ từng có những người đàn bà để lại trong anh những kỉ niệm đẹp, anh chịu ơn họ, nhưng cũng đã có nhưng người phụ nữ mà ít nhiều từng gieo trong anh cả những cay đắng, xót xa.

Ở Đà Lạt, Cương vẫn giữ nếp quen hút thuốc lào, chè Thái Nguyên pha đặc, đôi khi có thêm chén rượu quê được bạn bè gửi từ Hà Nội hay từ Bắc Ninh vào. Vẫn thức khuya đọc sách, làm thơ và thêm thú đam mê vẽ tranh. Và Cương làm được nhiều thơ về Đà Lạt, năm 2014 rồi 2016 ra hai tập thơ, nhất là tập “Lặng lẽ phố sương” hoàn toàn viết về Đà Lạt, những bài thơ hay và nhiều tâm trạng. Anh vẫn ôm cây đàn ghitare khe khẽ hát những bài hát đầy khắc khoải do chính anh sáng tác. Cương còn nhắc đến một kỉ niệm. Đó là anh có một bài thơ đã được nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc. Đó là một lần bất ngờ Cương nhận được cuộc điện thoại lạ, người gọi xưng danh là nhạc sĩ Huy Du nói cũng người Kinh Bắc. Trước hết ông xin lỗi bảo không được khoẻ không đi lại được, nên phải điện qua hỏi bên hội Nhà Văn biết điện thoại của nhà thơ nên muốn mời anh đến chơi và cho biết thêm, ông có mạn phép lấy bài thơ: “Một thuở Thiên Thai” in trong tập thơ “Gặt với sao mai” của nhà thơ họ Vương và đã phổ nhạc. Gặp nhau khi ấy Huy Du đã yếu lắm nhưng người nhạc sĩ già vẫn còn tự đàn và hát cho nhà thơ bài hát ấy và kịp chép tặng Cương một bản. Nhưng rất buồn, chỉ sau lần gặp bất ngờ đó hơn 2 tuần lễ, người nhạc sĩ nổi tiếng đó qua đời. Và cũng cần nói thêm, đây là bản nhạc được coi là sáng tác cuối cùng của nhạc sĩ Huy Du.
Rồi gần đây ở Đà Lạt, Cương cùng một người bạn còn mở quán cà phê nho nhỏ ngay tại nhà. Quán chủ yếu mở cho vui thôi chứ con phố nhỏ khuất lấp này đâu nhiều khách. Cương thường nói cứng, “nếu thấy cùng lúc có quá ba khách là tôi không tiếp”. Nhưng thực ra khách khứa gì, chủ yếu là bạn bè văn nghệ sĩ Đà Lạt như nhà văn Chu Bá Nam, nhà thơ Phạm Quốc Ca, nhà thơ, họa sĩ Vi Quốc Hiệp, nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩ, nhà báo Thanh Đạm...
Nếu chỉ tiếp xúc hay nhìn bên ngoài, rõ ràng Vương Tùng Cương là một con người ăn nói cứng rắn, phũ miệng. Vậy nhưng sâu thẳm lại có chút gì đó đắng đót mà anh không thể nói ra. Anh hài hước, trêu trọc một ai đó chỉ như để khỏa lấp khoảng trống trong lòng. Ở Đà Lạt nhiều quen biết nhưng anh chỉ vài người thân thiết hiểu anh và khi đã hiểu thì yêu mến anh. Mỗi khi bạn bè cũ từ Hà Nội vào chơi thì anh vui lắm. Nhưng đâu có nhiều. Như những hôm chúng tôi ở Đà Lạt, anh dành suốt mấy ngày ở bên, đưa đi khắp nơi đến những thắng cảnh Đà Lạt, dẫn đến cả quán cơm Bắc. Anh còn mua tặng Hoàng Cát chiếc quần hôm trời lạnh, mua tặng tôi chiếc khăn quàng cổ bảo lạnh nên cần giữ ấm cổ kẻo cảm lạnh.
Bạn bè ra về, Vương Tùng Cương hoàn toàn như một con người khác. Chẳng nói gì nhưng sao thấy Cương cô đơn quá. Không dám cả nhìn thẳng vào mắt nhau, chỉ bắt tay rất lâu từng người, rồi khi bạn lên xe, anh cũng không nhìn theo mà lặng lẽ quay vào. Những lúc ấy tôi như nghe thấy Vương Tùng Cương đang muốn nói: “Xa xôi quá đừng chia tay vội/ Đà Lạt mai ngày biết có gặp không?”